Sau những tập nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm, được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt, thì năm 2006, tập hồi ký "Ký ức chiến tranh" lại được nhiều người đón đọc như một người bạn mới. Tác giả, nhân vật chính của tập hồi ký là người chiến sĩ, nhà giáo Vương Khả Sơn...
Sau những tập nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm, được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt, thì năm 2006, tập hồi ký "Ký ức chiến tranh" lại được nhiều người đón đọc như một người bạn mới. Tác giả, nhân vật chính của tập hồi ký là người chiến sĩ, nhà giáo Vương Khả Sơn. Anh nhập ngũ khi chưa đầy 18 tuổi, lúc còn học lớp 9 (cũ) và chiến đấu liên tục gần 5 năm ở chiến trường B2.
Thống nhất đất nước, anh trở về quê hương. Đã 24 tuổi, lại là thương binh hạng 3/4, nhưng Vương Khả Sơn vẫn tiếp tục con đường học tập còn bỏ dở, rồi thi và đỗ Đại học sư phạm Vinh. Bốn năm học tập của anh là bốn năm gian khó chồng chất. Bởi lúc này anh đã có vợ và con gái đầu lòng, mà vợ con lại đau ốm phải thường xuyên đi viện. Một tuần, sau buổi học sáng thứ bảy, anh lại đạp chiếc xe lọc cọc gần 50km về quê, để có một ngày chăm sóc vợ con, chữa xe đạp, có thêm tiền thuốc thang, nuôi sống gia đình. Hai giờ sáng thứ hai, anh lại đạp xe ra trường. Có lúc phà Bến Thủy chưa đến giờ chạy, anh ngồi ngủ gật bên sông. Thế mà, anh vẫn học rất giỏi, cuối khóa nhận bằng tốt nghiệp loại ưu. Ra trường, anh xin về dạy ở Trường THPT Đồng Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) để được gần nhà, có điều kiện chăm sóc mẹ già, vợ con.
![]() |
|
Chiến sĩ trẻ thông tin |
Đồng Lộc là nơi mỗi người dân trong chiến tranh phải chịu hàng tấn bom đạn. Cuộc sống nhân dân và học sinh ở đây hết sức thiếu thốn. Nhiều học sinh phải bỏ học và học rất yếu. Thầy Sơn chẳng quản gian khó của gia đình mình, đã dồn hết tâm huyết giảng dạy và luôn quan tâm đến các em học yếu và có hoàn cảnh đặc biệt. Chính vì vậy mà thầy giáo Sơn được lớp lớp học sinh thương yêu. Mọi người đều biết, gần 20 năm làm giáo viên ở Trường THPT Đồng Lộc, cũng là quãng thời gian gia đình thầy giáo gặp bao khốn khó. Vợ thầy bị đau cầu thận nhiều lần nằm viện, các con (1 gái, 3 trai) đều nhiễm chất độc da cam, có lúc cả nhà đều nằm viện. Những ngày trái gió trở trời, vết thương tái phát, cả thân mình thầy giáo đau nhức nhối.
Năm 2001, thầy giáo Sơn được Sở Giáo dục-Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh điều về làm chuyên viên môn văn, năm 2003 lại được chọn làm việc tại Phòng giao dịch "1 cửa" cải cách hành chính của Sở. Công việc này chẳng đơn giản. Suốt ngày người vây kín trước cửa, đủ các đối tượng, những sự việc bức xúc. Nếu không có một thái độ bình tĩnh, biết lắng nghe và giàu lòng cảm thông thì khó mà làm tốt. Nhưng thầy giáo Sơn đều giải quyết mọi việc ổn thỏa, bởi luôn đặt mình vào hoàn cảnh của từng người, hiểu và cố gắng tìm mọi cách giúp họ bớt đi những thủ tục rườm rà để giải quyết công việc nhanh chóng. Nhiều người đem tiền, quà nhờ giúp đỡ hoặc cảm ơn, nhưng anh đều nhẹ nhàng từ chối, để lại lòng cảm phục cho nhiều người và góp phần làm cho "1 cửa" của ngành giáo dục Hà Tĩnh thu được kết quả tốt.
Tuy rất bận và nhiều điều phải lo nghĩ, nhưng anh Sơn đã dành nhiều buổi tối và cả những ngày lễ, chủ nhật để viết hồi ký "Ký ức chiến tranh". Bởi đó là những ngày gian khổ, hào hùng, những kỷ niệm không thể nào quên của anh một thời tuổi trẻ. Gần 5 năm chiến đấu ở chiến trường B2 ác liệt, biết bao đồng đội đã ngã xuống trên tay anh, và những lời trăng trối còn để lại cùng anh, tất cả đều như một cuốn phim quay chậm, hiện rõ trước mặt. Anh không thể ngờ, như một điều thần kỳ, là mình còn được sống, để trở về với mái trường, trở về với bục giảng và những người thân yêu nhất… Món nợ ấy luôn trĩu nặng trong lòng. Những trang hồi ký của anh tươi rói về từng bữa ăn, giấc ngủ, từng cuộc hành quân, từng trận đánh, sự hy sinh của đồng đội… Cảm xúc tuôn trào trên đầu ngọn bút. Anh thường thức đến 23-24 giờ đêm để viết, có lúc nước mắt chảy tràn trên trang giấy. Anh viết cho mình, cho đồng đội. Viết để quên đi, để vượt lên những gian khó của đời thường để trả phần nào món nợ cho người đã khuất vì cuộc sống hòa bình của đất nước hôm nay. Lúc đầu anh tâm niệm viết chỉ để phô-tô gửi tặng đồng đội chứ không hề nghĩ đến chuyện đăng báo, xuất bản, lấy nhuận bút… Thầy giáo Dư Lý Trí, người làm cùng phòng, người bạn tri ân của anh và cũng chính là người làm nhịp cầu nối bạn đọc với tác phẩm, sau khi đọc những trang viết đầu tiên của người đồng nghiệp rồi không dứt ra được, anh Trí đã động viên, thúc giục bạn mình hoàn thành tác phẩm. Nhận được sự động viên, khích lệ ấy, sau 6 tháng trời, anh Sơn đã trút dòng mồ hôi vào từng trang viết. Tác phẩm hoàn thành, anh Trí đã cùng anh mang ra Nhà xuất bản Thanh niên. Sau khi đọc tác phẩm, Nhà xuất bản Thanh niên đã cho xuất bản ngay.
Tác động của nó thật nhanh chóng không ngờ. Hàng vạn cuốn sách đã bán hết trong một thời gian ngắn. Điện thoại và thư từ không ngớt gửi về cho tác giả, thật cảm động. Cháu Phan Lê Lâm Sơn ở thành phố Hồ Chí Minh đã viết: "Cháu đã đọc một lèo đến 2 giờ sáng, cuốn sách làm cháu thực sự xúc động và tự hào về thế hệ cha ông, những người đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, để chúng cháu có cuộc sống hòa bình hôm nay"… Chị Nguyễn Thị Hạnh Nhân ở Thanh Hóa, viết: "Anh đã trở về từ cuộc chiến khốc liệt, bom đạn ken dày, kẻ thù sát ngay bên cạnh để những ngày này cuốn hồi ký ra mắt bạn đọc, để những người như em được hiểu tất cả, được chứng kiến tất cả, được thấm thía tất cả nỗi gian khổ và sự khốc liệt của chiến trường trong cuộc chiến cứu nước của các anh, trong đó có anh trai em…". Chị Nguyễn Thị Liên ở Khoa xét nghiệm, Trung tâm y tế Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, lại tâm sự: "Tập hồi ký của thầy cứ lôi cuốn em đi từ trang này sang trang khác một cách hấp dẫn, chân thực, đến nỗi hết rồi mà em còn luyến tiếc mãi". Còn nhiều dòng cảm xúc, cảm động và đề nghị sách được xuất bản thêm để đáp ứng yêu cầu bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ…
Bây giờ thầy giáo Sơn vẫn là một chuyên viên giáo dục, lặng lẽ, khiêm tốn, dáng người gầy yếu, luôn thích gắn mình trong bộ quân phục. Vợ thầy vẫn yếu. Cả 4 con đều bệnh tật, nhưng các cháu vẫn cố gắng học tập. Niềm vui mới là vợ chồng anh đã có một căn nhà nhỏ ở thị xã, chủ yếu là sự hỗ trợ của bạn bè và của bạn đọc. Tuy còn những đau khổ vì di chứng chiến tranh, vì những khó khăn đời thường, nhưng với bản chất người lính, anh vẫn vui sống và lạc quan, cố vượt lên hoàn cảnh để làm thật tốt nhiệm vụ, đáp lại nghĩa tình và trả món trợ đồng đội mà anh không thể nào quên.
MINH-NHO
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận