QĐND - Trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử nhân loại, hiếm có một cuộc cách mạng nào lại đồng thời đáp ứng nhiều đòi hỏi của lịch sử mang tính thời đại như cuộc Cách mạng Tháng Tám. Có thể nói cuộc cách mạng này đã thực hiện đồng thời ba sứ mệnh lịch sử: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người...
Bài 2: Cuộc cách mạng thực hiện ba sứ mệnh lịch sử
![]() |
|
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện, một điền chủ lớn yêu nước tham gia kháng chiến ở Việt Bắc. Ảnh tư liệu. |
QĐND - Trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử nhân loại, hiếm có một cuộc cách mạng nào lại đồng thời đáp ứng nhiều đòi hỏi của lịch sử mang tính thời đại như cuộc Cách mạng Tháng Tám. Có thể nói cuộc cách mạng này đã thực hiện đồng thời ba sứ mệnh lịch sử: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Trước hết, về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta, Cách mạng Tháng Tám lần đầu tiên nhân dân phải đối diện với thực dân Pháp, chủ nghĩa phát xít và nhiều cường quốc đế quốc trong cái gọi là lực lượng Đồng minh có trình độ phát triển cao hơn Việt một thời đại.
Ở vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng ta đứng trước ba “kịch bản” lịch sử:
Một là, thực dân Pháp tập hợp lực lượng và sẽ đưa thêm quân viễn chinh vào cướp lại nước ta một lần nữa, trên danh nghĩa là lực lượng Đồng minh thắng trận. Hai là, theo sự điều phối của Đồng minh, quân Tưởng sẽ kéo vào cát cứ ở miền Bắc, quân Anh sẽ kéo vào cát cứ ở miền . Lúc đó, không loại trừ Việt sẽ bị chia cắt lâu dài và trở thành “quốc gia ủy trị” của Liên hợp quốc. Ba là, chớp thời cơ, đứng lên khởi nghĩa, giành độc lập dân tộc. Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chọn phương án ba - khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, đặt Đồng minh trước một sự thật đã rồi “Nước Việt độc lập đã ra đời”.
Như vậy là nền độc lập của dân tộc Việt Nam không phải là “chiến lợi phẩm” của quân Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít mà là thành quả đấu tranh anh hùng của một dân tộc. Trong Tuyên ngôn Độc lập, ngày 2-9-1945, sau khi trân trọng trích lại Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, năm 1976, Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp, năm 1789, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(1).
Để khẳng định cơ sở pháp lý và chính nghĩa cuộc đấu tranh của dân tộc ta, Người nhấn mạnh: “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp… Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa…”(2). Có thể nói Tuyên ngôn Độc lập của Việt còn chính là Tuyên ngôn nhân quyền và quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc thuộc địa.
Thứ hai, về chế độ xã hội, Cách mạng Tháng Tám đã khai sinh ra Chế độ dân chủ, cộng hòa do nhân dân làm chủ. Khác với các cuộc cách mạng, khởi nghĩa trong lịch sử cũng như các cuộc cách mạng dân chủ tư sản - đó chỉ là sự thay đổi các vương triều hoặc thay đổi giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, còn người dân vẫn chỉ là những người bị áp bức, bóc lột.
Đúng như Lê-nin đã chỉ ra, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, sự áp bức giai cấp đồng thời trở thành áp bức dân tộc. Ở các nước thuộc địa, tất cả mọi người, bất kể ai, thuộc giai tầng nào đều có chung một số phận: Nô lệ. Bởi vậy có thể nói, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ chế độ nô lệ, trả lại tự do, quyền bình đẳng, phẩm giá cơ bản cho tất cả mọi người Việt Nam.
Cuộc Cách mạng Tháng Tám của dân tộc ta đã được Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) chuẩn bị về lý luận từ trước. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng, cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp là những cuộc cách mạng “không đến nơi” tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(3)... Với Người, một cuộc cách mạng thành công, cách mạng “đến nơi”, nghĩa là: “cách mạng rồi quyền phải giao cho dân chúng số nhiều …”(4) và “dân chúng phải được hưởng cái tự do, bình đẳng thật…”(5).
Hiếm có một cuộc cách mạng nào chỉ trong vòng một năm, lực lượng cách mạng đã thiết lập chế độ chính trị, nhà nước và chính quyền nhân dân trong cả nước. Như vậy là chế độ dân chủ, nhà nước pháp quyền của nhân dân ta ra đời trong Cách mạng Tháng Tám không phải là “thành tích” “khai hóa” của “mẫu quốc”, mà là kết quả của cuộc đấu tranh với không biết bao nhiêu hy sinh, mất mát của đồng bào, cán bộ, đảng viên của Đảng.
Thứ ba, về quyền công dân và quyền con người. Quyền con người là thành quả phát triển của nền văn minh nhân loại, song trong Chủ nghĩa tư bản, quyền con người vẫn chỉ là những quyền hạn hẹp. Sau Tuyên ngôn Độc lập, năm 1776 – chế độ nô lệ vẫn tồn tại ở nước Mỹ. Sau Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, năm 1789 ở Pháp quyền bình đẳng trong bầu cử, ứng cử của người Do thái, của người không có tài sản vẫn không được thừa nhận… Trên phạm vi thế giới, quyền con người vẫn chỉ thuộc về một số ít dân tộc được gọi là “văn minh”.
Ở Việt hơn 80 năm cai trị, thực dân Pháp vẫn duy trì chế độ phong kiến, xã hội thần dân. Trong công trình: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã viết: "Khi người ta có mầu da trắng thì nghiễm nhiên người ta là nhà khai hóa. Mà khi người ta đã là nhà khai hóa thì người ta có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất”(6). Lịch sử đã chỉ ra rằng, không một quốc gia Tư bản chủ nghĩa nào chấp nhận chia sẻ giá trị nhân quyền cho các dân tộc thuộc địa. Quyền con người của nhân dân ta không phải do lực lượng thống trị thực dân, đế quốc tôn trọng “tính phổ quát” hoặc “quyền tự nhiên”của con người mà có. Đối với các dân tộc thuộc địa, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là tiền đề và điều kiện của quyền con người. Đây có thể được xem là một nguyên lý mác-xít mới về cách mạng giải phóng dân tộc và lý luận mới về nhân quyền mà bản quyền hoàn toàn thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lý luận cũng như kỹ năng lập hiến, lập pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp mới với những tư tưởng tiên tiến nhất của nhân loại. Hiến pháp năm 1946 ngay lập tức tuân thủ triệt để nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với mọi thành viên xã hội; không có bất cứ một sự hạn chế nào về đẳng cấp, về chủng tộc, về tài sản hoặc về giới tính… của công dân. Đây là một ưu việt của chế độ xã hội ta.
Ý nghĩa thời đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám chính là ở chỗ đã đưa dân tộc ta từ một trình độ còn lạc hậu đến với các giá trị chính trị, xã hội cao nhất trong nền văn minh nhân loại – đó là chế độ dân chủ, nhà nước pháp quyền do nhân dân làm chủ, các quyền công dân và quyền con người, rút ngắn con đường tiến hóa của dân tộc ta hàng thế kỷ.
TS Cao Đức Thái
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập 4, Nxb CTQG, HN, 1995, trang 1.
(2) Hồ Chí Minh, SĐD, tập 4, tr3.
(3, 4, 5) Hồ Chí Minh, SĐD, tập 2 tr274, 270, 280.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Sự Thật, HN 1980, trang 97.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận