Ngày đó họ gặp nhau ở Trung tâm điều dưỡng thương binh. Hằng ngày, anh ngồi đệm đàn ghi ta, chị hát, anh em thương binh nằm bên cạnh nghe và cùng hát theo. Tiếng hát tiếng đàn bay bổng từ ngày đó đã gắn kết hai người bên nhau mãi mãi...
![]() |
|
Vợ chồng cụ Trần Văn Canh.Ảnh: Hà Quốc Toản |
Anh thương binh Trần Văn Canh tài hoa, lãng mạn ngày ấy nay đã là “cụ nghệ nhân” 77 tuổi, ở làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Cụ là người làm nón quai thao đẹp nhất làng Chuông, năm 2006, được tỉnh Hà Tây tặng danh hiệu Nghệ nhân làng nghề truyền thống.
Ngồi tiếp khách, tay cụ vẫn mải mê làm nón. Cụ kể lại chuyện ngày trước: “Tôi theo học nghề và biết làm nón từ khi còn nhỏ tuổi, tôi học nghề nón từ chính bố mẹ tôi. Năm 1946 tôi đi bộ đội, năm 1952 tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương. Trong trận Đông Quan (tại chợ Cháy, huyện Phú Xuyên) tôi bị thương nặng, cụt mất một chân, được đơn vị chuyển vào điều trị và an dưỡng tại Trung tâm thương binh nặng Nghệ An. Ngày đó, tôi đã gặp và quen với bà nhà tôi bây giờ”.
Ngay từ khi đến Trung tâm điều dưỡng thương binh, mặc cho đau đớn thương tật, anh Canh đã cùng với những anh em thương binh có năng khiếu đàn hát thành lập đội văn nghệ, để “ngầm” thi với đội văn nghệ của làng nơi đơn vị đóng quân. Làng cũng thường xuyên cử đội văn nghệ (có gần chục cô gái) giúp anh em thương binh ăn uống, giặt giũ quần áo, chăn màn và cùng hát cho anh em thương binh nghe. Trong số các cô gái làng, có một cô trẻ, xinh nhất và giọng hát cũng hay nhất, đó là cô Cầm, mới 17 tuổi. Cô Cầm cũng rất “tinh đàn”, từ khi nghe được tiếng đàn ngọt ngào của anh thương binh Canh, cô đã tìm mọi lý do để được gần anh. Khi có anh em thương binh đề nghị cô Cầm hát, cô lại đưa ra “yêu sách”: “Phải có anh Canh đệm đàn”. Đến bây giờ cụ Canh vẫn thường nhắc lại: “Hồi đó bà nhà tôi chỉ yêu tiếng đàn ghi ta, chứ yêu gì tôi bị thương mất một chân thế này! có đúng không bà?...”.
Bà Cầm cùng ngồi đan nón bên cạnh, bây giờ mới lên tiếng: “Hồi đó ở Trung tâm thương binh, có nhiều anh em biết đánh đàn ghi ta, đàn măng-đô-lin, đâu phải riêng ông. Nhưng được cái ông đệm ghi ta cho tôi “vào nhất”. Con gái chúng tôi ngày đó ai cũng thích hát, mà phải có người đệm đàn thì mới hay được. Thú thực, lúc đó trong làng và Trung tâm thương binh có nhiều anh mê tôi lắm! Nhưng tôi chỉ mê tiếng đàn của anh Canh...”. Cụ Cầm nói xong, quay lại nhìn cụ Canh thật trìu mến.
Ngày đó, anh thương binh Canh thường hay hát và đệm đàn ghi ta các bài “Quê em” (sáng tác: Nguyễn Đức Toàn), “Làng tôi” và “Chiến sĩ Việt ” (sáng tác: Văn Cao)... Anh thường hát đi hát lại câu: Quê em miền trung du, đồng xanh lúa xanh rờn, giặc tràn lên đốt phá, anh về quê cũ, đi diệt thù giữ quê, lòng em (lòng dân), đón anh về...
Cụ Canh tiếp tục câu chuyện: “Ngày đó tôi cũng thích bà ấy lắm, nhưng tôi bị mặc cảm, sợ khi hỏi “người ta” trả lời không thì ngượng lắm? Vì vậy tôi thường lấy tiếng đàn để động viên mình. Cũng lạ, tiếng đàn tôi vừa cất lên đã lại nghe thấy tiếng nói, tiếng cười giòn tan, tiếng hát trong veo của cô Cầm. Anh em thương binh biết chuyện chúng tôi, họ vun đắp, ủng hộ và ai cũng khen chúng tôi đẹp đôi. Như được tiếp thêm “nghị lực”, tôi đánh liều đặt thẳng vấn đề: “Cô Cầm ơi, tôi rất thích giọng hát của cô, nhưng tôi bị thương tật thế này, cô có đồng ý làm vợ tôi không?”. Cô Cầm không “bỏ lỡ thời cơ”: “Nhà em nghèo lắm, lại rất đông anh chị em, anh có dám cưới em làm vợ không?”. Lúc đó tôi cảm thấy hồi hộp và hạnh phúc quá, liền trả lời ngay: “Anh xin đồng ý lấy em làm vợ”. Từ lúc chúng tôi ngỏ lời yêu nhau, tôi càng chịu khó tập luyện đàn ghi ta nhiều hơn, chơi thêm được nhiều bài và tiếng đàn của tôi như càng hay và lắng đọng hơn. Cuối năm đó, Trung tâm thương binh và xã đã đứng lên tổ chức đám cưới cho chúng tôi. Đám cưới chúng tôi chỉ có nước chè, kẹo lạc, hạt bí và tiếng đàn hát của thương binh và thanh niên địa phương, nhưng vui lắm...
Làng Chuông ngày trước cũng rất nghèo. Năm 1957, vợ chồng anh thương binh về làng chỉ có một sào ruộng trồng lúa, một ngôi nhà tranh vách đất và nghề làm nón truyền thống. Dẫu chỉ còn một chân, anh Canh vẫn cùng vợ vừa làm nghề nông vừa làm nghề nón để có tiền nuôi các con ăn học. Nhờ cần cù chịu khó và nhờ nghề làm nón truyền thống, kinh tế gia đình ngày càng đầy đủ, ngoài ngôi nhà 2 tầng, diện tích 100m2, hai cụ còn mua đất và làm nhà riêng cho 5 người con khá đàng hoàng.
Cả làng Chuông biết làm nón, nhưng là làm nón lá thường, còn nón quai thao ít nhà biết làm và không ai làm đẹp như vợ chồng cụ Canh. Khách du lịch đến thăm làng Chuông, thường tìm đến đúng nhà cụ Canh để mua nón, chụp ảnh và hỏi chuyện về nghề nón. Nhiều khi đông khách mua và xem cụ làm nón, cụ Canh cao hứng lại lấy cây đàn ghi ta cũ đánh những giai điệu quê hương phục vụ khách. Tiếng đàn ghi ta vang lên nhẹ nhàng, quyến rũ như kể lại câu chuyện tình ngày xưa của hai cụ. Chính tiếng đàn ghi ta là “bà mối” của hai người, mang lại hạnh phúc vững bền để họ cùng nhau giữ lại hồn sắc quê hương.
HOÀNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận