Mới đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh Công an xã và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên; đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XII thông qua vào tháng 11-2008.
Mới đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh Công an xã và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên; đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XII thông qua vào tháng 11-2008.
Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân
Pháp lệnh Công an xã gồm 5 chương, 25 điều, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, hoạt động của Công an xã; trách nhiệm quản lý Nhà nước và chế độ, chính sách đối với Công an xã.
Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân, làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, gìn giữ trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.
Công an xã gồm các chức danh: Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên. Công an viên được bố trí tại thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và bố trí làm nhiệm vụ thường trực tại trụ sở hoặc nơi làm việc của Công an xã. Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về Công an xã. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về Công an xã.
Trưởng Công an xã được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của pháp luật. Phó trưởng Công an xã và Công an viên được hưởng phụ cấp hàng tháng. Chính phủ quy định khung mức phụ cấp đối với Phó trưởng Công an xã và Công an viên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quy định của Chính phủ và thực tế ở địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phụ cấp cấp cụ thể.
Trưởng Công an xã có thời gian công tác liên tục từ đủ 60 tháng trở lên được hưởng phụ cấp thâm niên; có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì hưởng trợ cấp một lần. Phó trưởng Công an xã và Công an viên có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng thì được hưởng trợ cấp một lần.
Các quy định của Pháp lệnh này được áp dụng đối với Công an thị trấn nơi chưa bố trí tổ chức Công an xã chính quy. Pháp lệnh có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2009.
8 nhóm, loại tài nguyên phải chịu thuế
Biểu thuế suất tài nguyên được quy định theo 8 nhóm, loại tài nguyên với mức thuế suất từ 0 đến 40%. Nhóm 1 gồm khoáng sản kim loại, trừ vàng và đất hiếm thuế suất từ 5 đến 30%, vàng từ 6 đến 30%, đất hiếm từ 8 đến 30%. Nhóm 2 gồm khoáng sản không kim loại, trừ đá quý, than, thuế suất từ 3 đến 10%, đá quý từ 10 đến 30%; than từ 4 đến 20%. Dầu mỏ thuộc nhóm 3 với mức thuế suất từ 6 đến 30%. Trong nhóm khí đốt, khí than chịu mức thuế suất từ 0 đến 25%. Nhóm 5 gồm sản phẩm rừng tự nhiên như gỗ các loại, trừ gỗ cành, ngọn, củi chịu mức thuế suất từ 10 đến 40%; gỗ cành, ngọn từ 10 đến 30%; củi từ 1 đến 5%; dược liệu, trừ trầm hương, kỳ nam từ 5 đến 15%, trầm hương, kỳ nam từ 20 đến 30%, các sản phẩm từ rừng tự nhiên khác từ 5 đến 20%. Nhóm 6 gồm các loại thủy sản, mức thuế suất từ 1 đến 10%. Nhóm 7 gồm các loại nước thiên nhiên, mức thuế suất từ 0 đến 10%. Nhóm 8 gồm các tài nguyên khác, mức thuế suất từ 0 đến 20%.
Pháp lệnh có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2009.
VIỆT ÂN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận