Thứ Sáu, 29/12/2006, 12:53

    Đội giao thông chiến S.20

    Thực hiện khẩu hiệu "Không ngừng tiếng súng, tiếng mìn trên đường 5 để phối hợp với Điện Biên Phủ”, đêm 13-3-1954 bộ đội ta đã tiến công, san bằng hàng chục đồn, bốt trên đường 5 đoạn Kim Thành-Cẩm Giàng. Trong đêm ấy, S.20 được phân công dùng mìn đánh chặn quân tiếp viện của địch ở Cổng Chông, phía Bắc thị xã Hải Dương. Sau đó, được lệnh của tỉnh đội, đơn vị cơ động lên phía Bắc để đánh địch trên

    (Tiếp theo và hết)

    Chiếc cầu sừng sững bắc qua sông hiện rõ mồn một trước mặt. Những lô cốt, ụ súng nằm sát bờ sông đắm chìm trong đêm với những lỗ châu mai đen ngòm, thỉnh thoảng lại chiếu ra thứ ánh sáng ma quái. Tôi nghe rõ tiếng rì rào của dòng nước cọ xát vào trụ cầu. Hai tên lính gác vẫn đi đi, lại lại trên mặt cầu. Con chó đi theo chúng đôi lúc lại hậm hực sủa lên mấy tiếng. Sau 20 phút theo dõi động, tĩnh, thấy qui luật canh phòng của địch không thay đổi, chúng tôi bắt đầu hành động.

    Kế hoạch đột nhập được qui định theo phương pháp “bơi ngửa để hở mũi” và hành tiến theo kiểu “chim tập bay”. Theo sự phân công, tôi và Thanh vào trước; theo trình tự đến trụ số I; sau đó, lợi dụng bóng tối ở gầm cầu, bơi sang trụ số 2 (trụ giữa). Khi chúng tôi đến trụ số 2 thì hai đồng chí Nguyễn Văn Cứ và Nguyễn Văn Cứng vào chiếm lĩnh trụ số 1.

    Lần lượt, chúng tôi vượt qua đoạn sông, vào trụ cầu; rồi nhẹ nhàng lặn xuống lòng sông; vén tấm lưới thép; lặn chui vào; thận trọng leo lên đặt thuốc nổ vào vị trí đã xác định và nối ngòi điện. Mọi việc được hoàn thành một cách nhanh chóng. Vừa lúc đó, mấy tên lính gác cầu đi tới. Chúng tôi vội tụt xuống ngâm mình dưới nước ngay trong chiếc lồng sắt ở trụ cầu. Lúc đó, tôi nghĩ đến một tình huống đã dự kiến trước. Khi thuốc nổ đã đặt xong; ngòi điện đã nối liền với nơi điều khiển; nếu địch phát hiện thì ở trong này, chúng tôi hét “xung phong”-coi đó là hiệu lệnh chỉ huy, người điều khiển ở ngoài cứ việc chập ngòi điện cho mìn nổ.

    Chờ cho những tên lính gác đi qua và tình hình trở lại yên tĩnh, chúng tôi rút ra ngoài để chuẩn bị phát hỏa.

    Hai giờ mười lăm phút hôm đó, nhân dân ở các vùng phụ cận thuộc các huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc đều giật mình, thức giấc vì một tiếng nổ xé trời. Trước mặt chúng tôi là một ánh chớp khổng lồ xé rách màn đêm, soi sáng cả một đoạn sông. Chiếc cầu bị cắt đứt tại nhịp giữa. Các nhịp đôi bên đều gục đầu xuống nước. Bọn lính ở hai bên đầu cầu như bị đập gẫy xương sống. Chúng hoảng loạn, kêu la, rồi nổ súng loạn xạ.

    Chúng tôi sung sướng vì đã hoàn thành nhiệm vụ đánh phá cầu Bía đúng thời hạn, góp phần phá tan âm mưu hành quân càn quét của địch vào vùng căn cứ của ta.

    3. Trận đánh xe tăng, phá vòng vây...

    Tiếng súng càn quét của địch ở khu Đông Gia Lộc, Bắc Tứ Kỳ kéo dài đến tận tối . Cán bộ, nhân dân các xã Quốc Tuấn, Hoàng Diệu (Gia Lộc), Hưng Đạo (Tứ Kỳ) bị kẹt lại trong vòng vây của địch bởi hai con đường 17 và 191.

    Trời đã tối mà xe tăng địch vẫn gầm rú, chạy đi, chạy lại trên quãng đường từ Tân Lâm (bốt Trắm) đi Phương Điếm nhằm ngăn chặn không cho cán bộ và nhân dân ta thoát khỏi khu vực chúng đang vây hãm.

    Từ thôn Cẩm Đới-xã Thống Nhất-nơi đóng quân của S.20 (Gia Lộc), sau khi thống nhất với đồng chí Trần Hồng Nguyên-chính trị viên, chúng tôi quyết định tổ chức ngay trận đánh để phá vòng vây của địch ở đường 17. Tôi trực tiếp chỉ huy 7 chiến sĩ mang theo 2 quả mìn đánh xe tăng lên đường làm nhiệm vụ. Nhờ ánh sáng đèn pha của xe trong đêm, từ xa, chúng tôi đã nắm được qui luật của địch-cứ 15 đến 20 phút, chúng lại chạy qua đoạn đường này một lần.

    Vượt qua đầu làng Ngà, chúng tôi vừa đến gần đường thì 3 chiếc xe tăng địch đã vượt qua trước mặt, chạy về phía Phương Điếm. Tranh thủ những giây phút hiếm hoi, tôi cho anh em lên mặt đường, chạy ngược lại phía Tân Lâm (bốt Trắm), nhằm tạo ra khoảng cách cần thiết giữa chúng tôi và địch khi chúng quay lại, để có thời gian chôn mìn.

    Chạy được khoảng 400m thì ánh sáng từ phía Phương Điếm đã chiếu rọi về phía chúng tôi. Xe địch đã quay lại. Thời gian không thể kéo dài, phải nhanh chóng tìm vị trí đặt mìn. Lợi dụng vũng nước mưa, xe địch vừa chạy qua làm tung tóe trên mặt đường, chúng tôi khẩn trương đào hố và chỉ kịp đặt hai quả mìn vào đó thì xe địch đã chạy đến gần.

    Chúng tôi rời khỏi mặt đường chưa đầy 100m, một tiếng nổ ầm vang làm chiếc xe tăng chạy trước khựng lại. Quãng đường đang sáng rực đèn pha bỗng tối sầm lại. Những chiếc xe địch chạy sau dừng lại, bắn loạn xạ, rồi kéo nhau về. Cả đêm ấy, không một chiếc xe nào của chúng dám chạy qua đoạn đường này nữa. Thế là vòng vây của địch đã bị chúng tôi chọc “thủng”.

    4. Đánh địch trên đường 17 và đường 20

    Giữa tháng 11 năm 1953, S.20 có lệnh của Tỉnh đội tổ chức trận đánh vào đường xe lửa, đoạn Cẩm Giàng. Tại địa đoạn Chùa Dê trên quãng đường từ An Điền đi Mai Trung, chúng tôi đặt 3 quả mìn nhằm lật đổ hẳn đoàn tàu quân sự của địch. Nhưng thật đáng tiếc, hơn 20 ngày chúng tôi hóa trang cùng hai nữ du kích địa phương giả làm người đi cuốc ruộng, đã ba lần gặp tàu địch chạy qua mà “” điện, mìn vẫn không nổ. Địch phát hiện, lấy mất mìn. Sau thất bại, không khí lo buồn bao trùm cả đơn vị. Tỉnh đội gọi tôi về báo cáo. Đồng chí Nguyễn Hoài Bắc chính trị viên phó Tỉnh đội trực tiếp nghe phản ánh, rồi kết luận: “Trận đánh kéo dài đã gần một tháng, yếu tố bí mật, bất ngờ của cách đánh du kích không còn nữa, lại không có chỉ đạo chuyển hướng. Do vậy, trách nhiệm có phần thuộc về sự chỉ đạo của Tỉnh đội. Còn các đồng chí, qua trận này phải rút ra những bài học để đánh những trận sau tốt hơn. Tuyệt đối không được bi quan, chán nản".

    Trở về đơn vị, chúng tôi thấy an tâm, liền phát động cả đơn vị tiếp tục tiến công địch với tinh thần "Thua trận này, ta bày trận khác". Mỗi cán bộ, chiến sĩ đều dán lên báng súng hoặc cài lên mũ khẩu hiệu "Quyết tâm rửa hận chùa Dê". Từ đó, S.20 lại quay về đánh địch ở đường số 9, đường 17 và đường 20.

    Để "rửa hận chùa Dê" và lập thành tích chào mừng tháng hữu nghị Việt-Trung-Xô, chúng tôi đưa đơn vị lên đường số 9. Trong hai ngày 17 và 18-1-1954, S.20 đã đánh tan xác ba xe địch trên đoạn đường Bình Cách gần An Thổ (Tứ Kỳ).

    Sau đó, quay về đường 20, chúng tôi lại đánh nhiều trận ở quãng đường cây đa Quán Cháy, ấp Me Kiều, đồng Cô Quế đầu làng Bình An… phá hủy hàng chục xe vận tải của địch. Chúng khiếp sợ, không dám cho xe chở hàng đi tiếp tế ở Phủ Vạc, Thọ Trường. Có lúc sợ xe chạy vấp phải mìn, chúng phải dùng máy bay trực thăng hoặc bắt tù nhân đi bộ khiêng vác thay xe vận tải. Từ Cẩm Giàng, chúng chi viện cho bọn này 4 xe GMC do 4 tên lính da đen cầm lái. Khi ra khỏi căn cứ Kẻ Sặt, bắt đầu vào đoạn đường nguy hiểm, 4 tên lính da đen không dám cho xe chạy tiếp mà dừng lại ở Cống Sộp, ngồi khóc; rồi quay xe lại. Vì thế trong bài hát truyền thống của S.20 mới có câu "… Đường 20, giặc phát khóc, hết xe rồi, tắc đường giao thông…".

    Để đánh thắng địch bằng các loại mìn, cán bộ và chiến sĩ S.20 đã tìm ra những cách đánh đầy sáng tạo. Chẳng hạn như loại mìn tự động chỉ nổ vào mục tiêu là xe địch; chống lại một cách có hiệu quả máy dò mìn hiện đại của địch. Đặc biệt, chúng tôi đã chế tạo ra một loại mìn để diệt những tên địch dò mìn. Loại mìn này, chúng tôi đặt tên cho nó là "mìn sờ". Sở dĩ có tên như vậy là khi địch phát hiện thấy mìn, cứ sờ vào mặt đất định đào là mìn nổ ngay. Sau khi có "mìn sờ", tôi đã trực tiếp đánh 7 quả trên quãng đường An Thổ (Tứ Kỳ), Đa Nghị (Ninh Giang), Phương Điếm (Gia Lộc), Đồng Niên (Cẩm Giàng), diệt 32 tên. "Mìn sờ" ra đời khiến những tên địch làm nhiệm vụ dò mìn khiếp sợ.

    Máy dò mìn hiện đại của địch mất tác dụng trước kỹ thuật đánh mìn điêu luyện của cán bộ, chiến sĩ S.20. Ở đường 17, có lần địch đã đập nát máy dò mìn vì toán lính đi trước dò đi, dò lại, xe yểm trợ chạy sau vẫn bị nổ tan tành vì mìn.

    5. Phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ

    Thực hiện khẩu hiệu "Không ngừng tiếng súng, tiếng mìn trên đường 5 để phối hợp với Điện Biên Phủ”, đêm 13-3-1954 bộ đội ta đã tiến công, san bằng hàng chục đồn, bốt trên đường 5 đoạn Kim Thành-Cẩm Giàng. Trong đêm ấy, S.20 được phân công dùng mìn đánh chặn quân tiếp viện của địch ở Cổng Chông, phía Bắc thị xã Hải Dương. Sau đó, được lệnh của tỉnh đội, đơn vị cơ động lên phía Bắc để đánh địch trên đường xe lửa.

    Đánh địch trên đường sắt lần này là lúc trình độ kỹ thuật và chiến thuật của ta đã có trình độ cao; đã bỏ qua từ lâu thời kỳ đánh mìn “giật dây” và cũng rất hạn chế việc sử dụng “mìn có người điều khiển” mà chủ yếu đánh bằng “mìn điện tự động”.

    Với phương châm “Đánh thắng địch nhưng phải bảo vệ được lực lượng ta” nên việc đánh mìn trên đường sắt đã chuyển sang thời kỳ mới-thời kỳ dùng “mìn điện tự động”, không có “gốc dây” đặt vào bất cứ một thôn xã nào ở ven đường. Do vậy, sau những trận đánh, địch không có cớ gì để khủng bố nhân dân, đánh phá cơ sở của ta.

    Mở đầu thời kỳ đánh bằng “mìn điện tự động” trên đường sắt là trận đánh ngày 28-12-1951. Tại quãng đường Lương Xá-Phú Thái, phá hủy một đầu tàu và lật đổ 18 toa xe của địch. Đây là trận đánh đầu tiên bằng “mìn điện tự động” trên đường sắt Kim Thành. Trong trận này, tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp đặt “cạm điện” và nối ngòi điện vào mìn. Trong giây phút nguy hiểm của cách đánh mới, tôi đã yêu cầu đồng đội ra khỏi phạm vi mìn có thể gây sát thương; rồi một mình ngồi trên quả mìn 50kg nối ngòi điện trong lúc hai đầu dây ở trong “cạm điện” chỉ cách nhau một khoảng bằng hạt gạo nằm ngang. Tôi đã hoàn thành bước cuối cùng của trận đánh thí điểm. Và từ khi có lệnh đánh mạnh để phối hợp với Điện Biên Phủ, “mìn điện tự động” đã được chúng tôi vận dụng đánh địch một cách phổ biến trên đường sắt, đoạn Cẩm Giàng.

    Với cách đánh bằng “mìn điện tự động”, 155 ngày đêm chiến đấu ở đất Cẩm Giàng, chúng tôi đã “lật” đổ 17 đoàn tàu chuyên chở vũ khí, binh lính địch chi viện cho đồng bọn đang bị ta bao vây ở Điện Biên Phủ. Trên những đoạn đường Hàn Thượng, Đồng Niên, Cao Xá, An Tình, Đức Trạch, Chùa Dê, Mai Trung, Kinh Nguyên, Ngặt Kéo là những nơi mãi mãi ghi đậm chiến công oai hùng của những chiến sĩ đánh mìn S.20 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

    Nổi bật nhất là trận đánh ngày 6-4-1954 trên quãng đường Đồng Niên-Cao Xá. Đây là trận đánh liên hoàn cả đường sắt lẫn đường bộ; kết hợp “mìn điện tự động” với “mìn sờ” và “mìn chống tăng”. Năm quả mìn đều nổ giòn giã trên phạm vi trận địa dài chừng 500m; trong một ngày lật đổ hai đoàn tàu quân sự, phá hủy một xe Jeep, một xe tăng; diệt hàng chục tên lính địch đến giải quyết hậu quả. Đường sắt bị cắt đứt. Nguồn tiếp vận của địch bị ngừng trệ hai ngày liền.

    Sau đó không lâu, ngày 3-5-1954, cũng đoạn đường trên, với kế nghi binh, chúng tôi đã đánh thắng một trận rất bất ngờ đối với địch. Đêm hôm trước (2-5) trong lúc tổ đào mìn đang làm nhiệm vụ thì bỗng có hàng loạt đạn trung liên bắn xối xả về phía chúng tôi làm một chiến sĩ bị thương nhẹ. Tôi ra lệnh cho anh em bắn trả và nhanh chóng rút khỏi mặt đường. Đồng chí Đính-đội phó phát hiện địch bắn ra từ những toa tàu bị lật đổ từ những lần trước, đã có sáng kiến rúc lên từng hồi còi, rồi hô to: “Không được bắn! Đuổi bắt sống chúng nó!”. Được đà, tôi tiếp luôn: “Trung đội một bên phải, trung đội hai bên trái, đuổi bắt sống chúng nó!”. Thực tình lúc đó, chúng tôi chỉ có hơn 10 người với 4 khẩu súng trường, 2 tiểu liên. Thấy chúng tôi hô dõng dạc và còi rúc liên hồi, bọn địch phục kích liền bỏ chạy về bốt Đồng Niên, dùng moóc-chê (súng cối) và đại liên bắn ra uy hiếp. Sau một hồi, địch bắn vu vơ, khu vực trận địa trở lại yên tĩnh. Chúng tôi cũng trở lại mặt đường kiểm tra hố mìn. Thấy xung quanh miệng hố, đất đá tung ra bừa bãi, tôi nảy ý định đánh tiếp ngay, đặt mìn vào hố mà lúc nãy, bọn địch đã phát hiện. Sau khi kiểm tra và bố trí các tổ cảnh giới bảo vệ, chúng tôi lại tiếp tục đào thật sâu hố cũ, khoét ngang sang một bên, đặt quả mìn vào đó, rồi lấp chặt đất đá đến lưng chừng hố, không cần ngụy trang, nhằm đánh lừa địch.

    Đúng như kế nghi binh của ta, sáng hôm sau, bọn địch từ bốt Đồng Niên đi kiểm tra đường. Tới chỗ chúng tôi đặt mìn, thấy đất đá rơi vãi tứ tung, miệng hố “đang đào” dở dang còn bỏ nguyên đó, chúng không nghi ngờ gì. Khoảng 9 giờ sáng, đoàn tàu từ Hải Phòng lên, qua thị xã Hải Dương, hối hả lao về phía Hà Nội. Khi nó đến chỗ chúng tôi đặt mìn, một tiếng nổ dậy đất vang lên. Quả mìn có sức công phá bằng 40kg thuốc nổ đã nổ đúng vào 3 toa cuối chở đầy lính, làm chết và bị thương 120 tên.

    Giải quyết xong hậu quả, đoàn tàu này chạy tiếp. Vừa tới đoạn đường có quả mìn thứ hai, chiếc đầu tàu ngoan cố này cũng không thoát đòn trừng phạt của quân ta. Nó vỡ toác, kéo theo hai toa nằm vật sang bên đường. Việc vận chuyển trên đường sắt bị ngừng trệ cả một ngày.

    Sau trận đánh nghi binh biến bại thành thắng này, phá hủy một đầu tàu, 5 toa xe, diệt và làm bị thương 120 tên địch, đơn vị đã tổ chức mừng công. Có một đồng chí phấn khởi đã sáng tác mấy câu hò:

    Ai về Cao Xá, Đồng Niên

    Mà xem mưu mẹo đánh mìn của ta

    Chôn mìn, hố để hở ra

    Lính dò mìn đến, “giúp” ta lấp vào

    Tàu qua, mìn nổ, lật nhào

    Hỏi rằng, tài trí ai nào hơn ai?

    … Chúng tôi liên tục đánh địch trên đường sắt Cẩm Giàng cho đến ngày Hòa bình lập lại vào 7 giờ sáng ngày 27-7-1954 khi Hiệp định đình chiến có hiệu lực. Quả mìn còn lại cuối cùng của chúng tôi ở đường sắt được đào lên và khiêng về trước sự ngượng ngùng và thất vọng của những tên lính viễn chinh bại trận.

    Nhìn lại chặng đường gần 600 ngày vừa xây dựng, vừa chiến đấu, ngoài công việc hướng dẫn dân quân, du kích ở Bình Giang, Gia Lộc; huấn luyện cho bộ đội huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), huyện Văn Lâm (Hưng Yên) biết cách đánh mìn và đã đánh thắng nhiều trận; cán bộ và chiến sĩ Đội S.20 đã đánh gần 200 trận lớn nhỏ bằng mìn trên các đường giao thông; diệt và phá hủy 145 xe (có 20 xe tăng và xe bọc thép); lật đổ 17 đầu tàu và 85 toa xe lửa của địch trên đường số 5. Lá cờ Quyết chiến quyết thắng của đơn vị lấp lánh hai tấm Huân chương Quân công hạng ba và Chiến công hạng nhất.

    Chúng tôi mãi mãi tự hào là đã góp phần xứng đáng vào trang sử về truyền thống chiến đấu giải phóng quê nhà.

    LÊ HOÀI THAO (ghi)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...