Thứ Năm, 02/10/2008, 22:05

    Giải bài toán nhập siêu

    Nhập siêu nóng lên trong năm 2007 và nhất là từ đầu năm 2008 đến nay, là một trong những vấn đề đặt ra đối với cân đối kinh tế vĩ mô...

    No image available

    Ô tô nhập khẩu. Ảnh: Internet

    Nhập siêu nóng lên trong năm 2007 và nhất là từ đầu năm 2008 đến nay, là một trong những vấn đề đặt ra đối với cân đối kinh tế vĩ mô. Hội thảo khoa học “Phối hợp chính sách, giải pháp kinh tế-tài chính khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập siêu”, do Viện Khoa học Tài chính, Bộ Tài chính, tổ chức đã tập trung đánh giá tình hình, phân tích nguyên nhân, nêu những đề xuất rất có giá trị về vấn đề này.

    Nhập siêu song hành với lạm phát

    Nhập siêu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2008 là 15,8 tỷ USD, tăng 86% so với cùng kỳ năm 2007 và bằng 32,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Đáng chú ý là trong lúc nước ta nhập siêu thì hầu hết các nước trong khu vực đang xuất siêu, thậm chí là xuất siêu ở mức lớn. Một đặc điểm khác là nhập siêu cao diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế khá cao và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cũng tăng cao. CPI của 9 tháng đầu năm 2008 tăng 21,87% so với tháng 12 năm 2007 và tăng 27,9% so với cùng kỳ năm 2007. Như vậy, từ năm 2007 đến nay, nhập siêu và lạm phát tăng đột biến trong khi tăng trưởng GDP vẫn duy trì ở mức khá. Tình trạng nhập siêu chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp có vốn trong nước, là điều kiện bảo đảm cho sản xuất các ngành công nghiệp. Tốc độ tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn trong nước thấp hơn tốc độ tăng của nhập siêu. Việt Nam nhập siêu tập trung ở nhóm nước ASEAN, APEC.

    Theo PGS.TS Vũ Thị Bạch Tuyết, Học viện Tài chính, những nguyên nhân nhập siêu xuất phát từ các yếu tố bên trong của nền kinh tế. Thứ nhất, là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn thấp, trong khi phải đối mặt với môi trường cạnh tranh khốc liệt, với các đối thủ cạnh tranh quá mạnh trên mọi phương diện. Thứ hai, những bất cập trên thị trường xuất, nhập khẩu. Trong khi chúng ta xuất siêu vào các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Ca-na-đa, EU, thì lại nhập siêu mạnh từ các nước châu Á, đặc biệt là các nước trong khu vực. Đây là một nghịch lý, bởi lẽ theo lô-gích phát triển, ta phải nhập siêu ở các nước tiên tiến để tiếp thu các sản phẩm hiện đại, tri thức và công nghệ nguồn. Nguyên nhân thứ ba, sâu xa của nhập siêu thuộc về các vấn đề chính sách kinh tế vĩ mô. Đó là những hạn chế trong xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế cũng như sử dụng các công cụ điều hành vĩ mô.

    TS Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Thị trường-Giá cả, Bộ Tài chính chỉ ra các tác động của nhập siêu. Đó là tác động đến tăng trưởng kinh tế. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhập siêu (tính theo % GDP) giai đoạn 1995-2007 là liên hệ đồng biến. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng đạt được trong thời gian có tỉ lệ nhập siêu cao, chứng tỏ nhập siêu có tác động tương đối tích cực đến cả 3 bộ phận tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ. Qua đó cũng có thể nhận thấy, đầu tư của khu vực trong nước có xu hướng tăng mạnh hơn khu vực FDI.

    Thực tế quan hệ lạm phát và nhập siêu từ năm 1995 đến nay cho thấy, càng nhập siêu thì tỉ lệ lạm phát càng cao, tác động của ‘‘nhập khẩu lạm phát’’ cao hơn nhiều so với tác động cân đối cung-cầu trên thị trường.

    Nhập siêu cũng tác động không nhỏ tới tỉ giá hối đoái. Nhập siêu tăng cao đồng nghĩa với nhu cầu ngoại tệ tăng và tỉ giá hối đoái có xu hướng tăng do tác động của quan hệ cung-cầu ngoại tệ. Ngược lại, tỉ giá hối đoái giảm lại kích thích nhập khẩu, cản trở xuất khẩu và do đó nhập siêu có xu hướng tăng mạnh. Chính các tác động ngược chiều cơ bản đó gây khó khăn cho việc xác định tác động của nhập siêu tới tỉ giá hối đoái.

    Giảm nhập siêu-ưu tiên hàng đầu

    Theo nhận xét của nhiều đại biểu thì nhập siêu của Việt Nam vẫn ở mức có thể được bù đắp bởi dòng kiều hối và các nguồn khác. Tuy nhiên, nếu mức nhập siêu tiếp tục gia tăng trong một thời gian dài, sẽ là một nguy cơ đối với cán cân thanh toán và ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt nếu các nguồn bù đắp trên có dấu hiệu đảo chiều. Do vậy, việc giảm nhập siêu vẫn là một ưu tiên quan trọng, cả trước mắt và lâu dài; với các biện pháp trực tiếp mang tính ngắn hạn cũng như các giải pháp trung và dài hạn.

    Để hạn chế nhập siêu trong ngắn hạn, theo TS Nguyễn Kế Tuấn (Đại học Kinh tế quốc dân) thì cần rà soát lại danh mục các mặt hàng nhập khẩu để đưa ra một quyết định nhập khẩu hợp lý, có lợi cho cả nền kinh tế quốc dân và doanh nghiệp nhập khẩu. Về cơ bản, chỉ cho phép nhập khẩu các loại hàng hoá trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu; không cho phép hoặc hạn chế đến mức tối đa nhập khẩu các loại hàng hóa trong nước có khả năng sản xuất.Đồng thời thúc đẩy xuất khẩu, bảo đảm tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ nhập khẩu. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu, khai thác nguồn hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu, giữ uy tín với từng thị trường trong bảo đảm chất lượng hàng hoá và kỳ hạn giao hàng.

    Các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu linh hoạt hơn trong việc lựa chọn ngoại tệ thanh toán, để có thể hưởng lợi từ tình trạng mất giá của đồng đô-la Mỹ (USD) so với hàng loạt ngoại tệ khác, như euro (EUR), bảng Anh (GBP), franc Thụy Sĩ (CFH), đô-la Ô-xtrây-li-a (AUD), yên Nhật (JPY)…

    Ngoài các biện pháp trên, TS Vũ Thị Bạch Tuyết đề xuất sử dụng có hiệu quả các công cụ tài chính nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất hàng hóa và dịch vụ, tạo sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Sử dụng triệt để tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm tra hàng nhập khẩu, kiên quyết không nhập khẩu hàng chất lượng kém. Đây là hàng rào hữu hiệu nhất luôn được các nước phát triển khai thác để bảo vệ lợi ích quốc gia và lợi ích người sử dụng.

    Về một số chính sách mang tính trung và dài hạn, PGS.TS Trần Đình Thiên và Ths Nguyễn Chiến Thắng của Viện Kinh tế Việt Nam đã đề xuất các biện pháp cụ thể như:

    Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ để tránh phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu hàng hoá, đặc biệt trong bối cảnh giá nguyên vật liệu có xu hướng gia tăng. Bằng cách đó, sẽ tiết kiệm được một nguồn ngoại tệ lớn và tránh những cú sốc về giá khi giá nguyên vật liệu tăng trên thị trường quốc tế.

    Nhập khẩu công nghệ tiên tiến từ các nước châu Âu hoặc Mỹ để tăng khả năng cạnh tranh trong nước và hướng ra xuất khẩu.

    Chuyển dịch cơ cấu đầu tư sang các ngành xuất khẩu, đồng thời dần dịch chuyển cơ cấu các ngành xuất khẩu từ chỗ giá trị gia tăng thấp sang hướng giá trị gia tăng cao.

    Có chính sách giám sát đầu tư công hiệu quả, bảo đảm nguồn vốn đầu tư tạo ra một nền kinh tế hiệu quả, hướng tới tăng trưởng xuất khẩu bền vững. Đương nhiên là cần chế độ tỉ giá thuận lợi cho xuất khẩu và có biện pháp kiềm chế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ phù hợp với quy định WTO.

    Về cả lý luận cũng như thực tiễn đều cho thấy, biện pháp trực tiếp nhất mang tính ngắn hạn phải kết hợp với các chính sách mang tính dài hạn. Bản thân chính sách thương mại không thể giải quyết vấn đề nhập siêu trong dài hạn nếu không có các chính sách bổ trợ mang tính dài hạn.

    Hoạt động xuất, nhập khẩu qua cảng Sài Gòn trong thời gian qua đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế nhập siêu.

    Nguyễn Minh (lược ghi)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...