Để có nước sạch sử dụng hằng ngày, những người phụ nữ dân tộc Mông, Nùng, Dao… phải dậy trước khi con gà cất tiếng gáy gọi ông mặt trời thức giấc. Trong hoàn cảnh ấy, dự án cấp nước sạch của Bộ đội Biên phòng Hà Giang càng thêm giá trị...
Cổng trời Quản Bạ cao vời vợi. Mây bay ngang qua đầu. Khe sâu cuồn cuộn ngay dưới chân những dãy núi thuộc các bản Na Cho Cai, Phín Ủng, Cốc Pụng... nhưng mỗi khi vào mùa khô, cả xã Nghĩa Thuận lại nóng lên câu chuyện về nước. Để có nước sạch sử dụng hằng ngày, những người phụ nữ dân tộc Mông, Nùng, Dao… phải dậy trước khi con gà cất tiếng gáy gọi ông mặt trời thức giấc. Họ cắm cúi vượt quãng đường vài cây số chỉ mong có được một gùi nước trên lưng... Trong hoàn cảnh ấy, dự án cấp nước sạch của Bộ đội Biên phòng Hà Giang càng thêm giá trị.
Nước quý hơn... gạo
Tôi đã đến Hà Giang vài lần, lần nào cũng vào mùa khô bởi lúc ấy mới có dịp đi đến những bản làng xa xôi. Trên xứ sở của vùng “cao nguyên đá” này, câu chuyện về giọt nước sạch bao giờ cũng là thời sự. Nhiều khi, để có ấm nước pha trà, chủ nhà phải bỏ ra cả nghìn đồng cho một lít nước. Nghe có vẻ như… bịa bởi đắt đỏ như ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, cả khối nước cũng mới có vài nghìn bạc nhưng để có nước sạch, nhiều nơi ở Hà Giang, một téc nước phải do loại ô tô “đặc chủng” ì ạch vượt đèo, leo dốc, sau đó phải có ngựa thồ, người gùi... Tưởng như nước ở trên trời, nước dưới lòng đất, dễ kiếm, dễ tìm nhưng với đồng bào các dân tộc vùng cao Hà Giang quả là không đơn giản. Tuy còn nghèo, nhưng với họ nhiều khi giọt nước còn quý hơn… hạt gạo.
Giọt nước liên quan đến bao điều của cuộc sống. Trong mỗi gia đình, thiếu gạo có thể thay ngô nhưng thiếu nước không thể thay bằng thứ khác. Câu chuyện về nước giữa tôi với anh Lò Văn Sử, Chủ tịch UBND xã Nghĩa Thuận và Trung tá Sùng Tờ Dìn, Đồn phó Trinh sát Đồn Biên phòng 191 tuy ngắn nhưng chỉ xoay quanh chủ đề nước. Chủ tịch Lò Văn Sử đưa ra con số so sánh: Cả xã có hơn 5.000ha nhưng đất cho sản xuất chỉ có 380 ha, chủ yếu trồng ngô và cấy lúa một vụ. Đồng bào đa phần còn nghèo (379/589 hộ) xã chưa có hộ giàu, chỉ có hai hộ khá, một hộ do cách sản xuất và một hộ do biết kết hợp giữa sản xuất và buôn bán nhỏ. Là xã vùng cao nên Nghĩa Thuận có hai cái khó đặc trưng nhất ở Hà Giang là giao thông đi lại vô cùng khó khăn và triền miên thiếu nước sinh hoạt. Trước năm 2000, về mùa khô, hầu như tất cả các bản đều thiếu nước, mọi nhà phải cắt cử lực lượng lao động đáng kể để gánh, gùi nước từ đầu nguồn, dưới chân điểm cao 1.483 về. Mất công, mất buổi nhưng không phải nguồn nước ấy đã đủ tiêu chuẩn, nước cho sinh hoạt của một gia đình phần lớn chứa đựng trong chum, trong vại. Có thời điểm, đồng bào ở đây tính, nhà nào có chum đựng nước to (gọi là to nhưng cũng chưa đến 1m3) là nhà ấy thuộc diện… khá! Nước sạch chủ yếu phục vụ cho nấu ăn, sử dụng vào việc tắm giặt là rất hạn chế. Chính vì thế, người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em dễ mắc các căn bệnh mắt, ngoài da, bệnh phụ khoa... Nước ăn còn thiếu, nói gì đến nước cho trồng rau, nuôi cá để cải thiện đời sống. Nước cho trồng cấy thì hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên.
“Nước sạch Biên phòng” - lời giải của bài toán khó
Đại tá Sùng Thìn Cò, Phó chỉ huy trưởng Bộ CHBP tỉnh là người Mông chính gốc Hà Giang, quê anh thuộc một xã biên giới. Tuổi thơ anh cũng đã từng “cõng”, vác ống nước trên vai và cả quãng đời quân ngũ phần lớn gắn với vùng cao nên anh hiểu nỗi khó nhọc của đồng bào, thấu nỗi khổ của đồng đội. Anh bảo rằng: “Nước ở vùng cao bao đời nay luôn là bài toán khó, giải được bài toán này sẽ mở ra một trang mới cơ bản cho đồng bào các dân tộc thiểu số”. Bây giờ, câu chuyện về nước đã “mát” hơn đối với đồng bào nhiều nơi trên cao nguyên đá. Được sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành, trực tiếp là Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ CHBP Hà Giang đã tiến hành khảo sát, triển khai một số dự án cấp nước sạch cho các đồn biên phòng gắn với các cụm dân cư. Đến nay, 5 dự án cấp nước sạch do Bộ đội Biên phòng Hà Giang thực hiện đã được đưa vào khai thác, sử dụng. Đó là các dự án cấp nước sạch khu vực Đồn Biên phòng và cụm dân cư Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì với tổng mức đầu tư hơn 1,3 tỉ đồng; Dự án cấp nước cho Đồn Nghĩa Thuận, huyện Quản Bạ tổng mức đầu tư gần 2 tỉ đồng; Dự án cấp nước cho Đồn Biên phòng Săm Pun và cụm dân cư Xín Cái, huyện Mèo Vạc, tổng mức đầu tư hơn 2,1 tỉ đồng; Dự án cấp nước cho Đồn Lũng Làn và cụm dân cư xã Sơn Vĩ, huyện Mèo Vạc, tổng mức đầu tư hơn 1,7 tỉ đồng; Dự án cấp nước sạch cho Đồn Biên phòng và cụm dân cư xã Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tổng mức đầu tư 1,52 tỉ đồng. Cùng với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, điện… các dự án nước sạch đã tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương, hàng trăm héc-ta ruộng có nước tưới. Hơn 10.000 người được sử dụng nước sạch đã góp phần đắc lực cho kế hoạch điều chỉnh, ổn định dân cư; xóa đói, giảm nghèo và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào Hà Giang.
Giải cơn khát... xóa nghèo
Việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cung cấp nước sạch nói riêng đã tạo ra những điều kiện vật chất cần thiết cho xây dựng khu vực phòng thủ biên giới và đẩy mạnh phong trào quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Đồng thời, góp phần củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước, quân đội, đặc biệt là củng cố mối đoàn kết máu thịt giữa nhân dân các dân tộc với Bộ đội Biên phòng. Khó có thể tả hết nỗi vui mừng của các hộ dân được hưởng lợi ích từ dự án cấp nước sạch của Bộ đội Biên phòng.
Từ khi có nguồn nước sạch sinh hoạt, đời sống của người dân đã cải thiện rõ ràng. Chị Lò Thị Chúa, 50 tuổi ở bản Ma Sào Phố, xã Nghĩa Thuận kể: Lúc 7 tuổi, chị đã phải đi địu nước trong khe núi, mỗi buổi, trên quãng đường đi vài ki-lô-mét chỉ địu được 5 lít nước. Lớn lên đi lấy chồng, công việc chính của chị vẫn là đi sớm, về muộn… gánh nước. Nay, nhà chị có bể chứa tới 6m3 nước, thoải mái sử dụng cho việc nấu nướng, tắm giặt, kể cả tưới những luống rau xanh quanh nhà. Ngày trước, mỗi can nước 20 lít có khi phải mua mất 30 nghìn đồng, tốn kém nhiều mà phải tiết kiệm nên vệ sinh không thể sạch sẽ được... Không chỉ người dân bản địa như chị Chúa hay các chiến sĩ biên phòng mà theo Chủ tịch UBND xã Lò Văn Sử: Giải quyết được bài toán nước sạch, những cô giáo cắm bản; nhân viên ngân hàng; y, bác sĩ tăng cường cơ sở… cũng phấn khởi, yên tâm công tác, góp công sức xây dựng, giữ gìn vùng biên cương của Tổ quốc.
Bài và ảnh: NGÔ ANH THU
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận