Năm 1972, tôi đi B lần thứ 2. Từ ngoài Bắc, đơn vị vừa hành quân vừa chiến đấu, vào đến đường mòn Hồ Chí Minh, được bổ sung vào Binh trạm 32, Đoàn 559...
Năm 1972, tôi đi B lần thứ 2. Từ ngoài Bắc, đơn vị vừa hành quân vừa chiến đấu, vào đến đường mòn Hồ Chí Minh, được bổ sung vào Binh trạm 32, Đoàn 559. Cuối năm 1972, đơn vị tôi nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch Không Sê Đôn, bên nước bạn Lào. Sau nhiều ngày chiến đấu ác liệt, hôm đó, đại đội được lệnh đi đào trận địa ở tuyến trước. Chỉ huy đơn vị cử tôi và đồng chí Lê Văn Toán (cả hai đang bị sốt rét) ở lại bảo vệ 4 khẩu pháo của đại đội.
Gần trưa, chúng tôi phát hiện nhiều tốp địch đang tiến về phía trận địa ta. Tôi và đồng chí Toán hội ý chớp nhoáng, chờ địch vào thật gần mới bắn. Khi chúng còn cách khoảng 15m, tôi hô to: “Toàn đại đội bắn”. Súng nổ, quân địch cũng hốt hoảng bắn vào trận địa ta như mưa. Chúng tôi tập trung bắn tỉa để tiết kiệm đạn, vì mỗi đồng chí chỉ được trang bị một khẩu AK và hai băng đạn (60 viên). Sau hơn một giờ chiến đấu, địch vẫn không chiếm được trận địa của ta, đành rút lui để thu xác đồng bọn. Đồng chí Toán báo cáo với tôi là đã bắn sắp hết đạn, đề nghị cho đồng chí rút lui về phía sau xin chi viện, vì quân địch còn rất đông. Tôi nói với đồng chí Toán: "Nếu rút lui thì mất pháo, chúng ta sắp hết đạn, lại bị bao vây chặt, rút lui chắc gì đã thoát; phải quyết tâm ở lại chiến đấu đến cùng, kiên quyết không để vũ khí rơi vào tay quân địch...". Đúng lúc ấy, quân địch lại tổ chức tấn công. Tôi hô đồng chí Toán dùng pháo phòng không 37mm, hạ thấp nòng, một tay quay mâm pháo, một tay ấn cò, chỉnh đường đạn, bắn thẳng vào đội hình địch.
Khi huấn luyện ở miền Bắc, mỗi khẩu pháo loại này thường có 7 pháo thủ; trong chiến trường chỉ sử dụng 5 pháo thủ, vậy mà chúng tôi mỗi người một khẩu, vừa bắn vừa lắp đạn. Đầu đạn gặp mục tiêu nổ chát chúa, sát thương rất lớn, làm quân địch hoảng sợ kéo nhau chạy ra xa và dùng cối 60mm, 81mm, súng phóng lựu M79, M72 bắn cấp tập vào trận địa ta. Tôi và đồng chí Toán tạm rút xuống hầm để tránh pháo địch và chuẩn bị đạn cho trận chiến đấu tiếp theo. Sau trận “mưa pháo”, địch tưởng đã quét sạch được quân ta, chúng lại tổ chức tấn công ồ ạt. Tôi và đồng chí Toán phân công nhau mỗi người một hướng, dùng pháo bắn quét quân địch, lấy vũ khí thu được của địch để đánh trả. Do bị thương vong nhiều, quân địch tấn công đến lần thứ 6 không chiếm được trận địa của ta, buộc chúng phải thu xác đồng bọn và rút lui, bỏ lại một số vũ khí, quân dụng.
Cuối giờ chiều, trận địa ngớt tiếng súng, đại đội cử trinh sát về tìm xác chúng tôi, nhưng thật bất ngờ, anh em thấy chúng tôi chỉ bị thương nhẹ, 4 khẩu pháo vẫn nguyên vẹn. Sau trận chiến đấu đó, tôi được kết nạp Đảng ngay tại trận địa; đại đội pháo của chúng tôi sau đó được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân năm 1973.
NGUYỄN VIẾT NHÌ (Nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 22, Trung đoàn 595, Đoàn 559)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận