Thứ Sáu, 05/09/2008, 15:50

    Hai bài thơ ấy ra đời như thế

    Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, dòng thơ-văn tế các anh hùng - liệt sĩ, những người con tận trung báo quốc, đã tạo nên những xúc cảm đặc biệt trong lòng người đọc nhiều thế hệ... Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, dòng thơ-văn tế các anh hùng - liệt sĩ, những người con tận trung báo quốc, đã tạo nên những xúc cảm đặc biệt trong lòng người đọc nhiều

    No image available

    Một phần nghĩa trang Plei-cu.

    Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, dòng thơ-văn tế các anh hùng - liệt sĩ, những người con tận trung báo quốc, đã tạo nên những xúc cảm đặc biệt trong lòng người đọc nhiều thế hệ.

    Sự ra đi bi tráng của các anh hùng - liệt sĩ ấy, vốn chẳng ai mong có trong đời sống tự nhiên, nhưng trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, lại góp phần to lớn để hun đúc lòng yêu nước, chí quật cường, lòng dũng cảm, đức hy sinh của toàn dân tộc, và vì thế, đã trở thành một đề tài thiêng liêng của thi ca.

    Không nói quá xa, chỉ nói trong lịch sử cận-hiện đại, thì thơ - văn tế viết về những nghĩa sĩ Cần Giuộc, về Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; về các anh hùng - liệt sĩ trong các cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ..., đã dài như đường ra trận. Thơ (văn tế sau này ít người làm) hiện đại về vấn đề này đã được ghi nhớ rất nhiều, từ truyền miệng cho tới báo chí, từ trong các tập thơ cho tới sách giáo khoa, với nhiều nhất lòng thành kính, cảm phục và xúc động của những người viết.

    Năm 1999, 28 năm sau khi anh trai tôi-liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn-hy sinh ở Tây Nguyên, gia đình tôi mới có đủ tin tức và điều kiện để đi tìm mộ anh.

    Đến nghĩa trang thị xã (bây giờ là thành phố) Plei-cu, thủ phủ tỉnh Gia Lai, vừa được đầu tư xây dựng rất khang trang, tôi ngẩn ngơ giữa 3.000 ngôi mộ quét vôi trắng, nằm theo hàng lối, khu vực, tề chỉnh như đội hình của cả một trung đoàn trong đó có mộ phần anh tôi. Chắc chắn là ai đến đó, cũng như đến các nghĩa trang liệt sĩ khác, đều có những cảm xúc như tôi khi ấy. Đó là những cảm xúc mạnh mẽ, khó tả, trộn lẫn với nhau, như những con suối lẻ đột nhiên gặp nhau để làm nên thác lớn: Lòng thành kính trộn với niềm tiếc thương, sự khâm phục hòa cùng nỗi xót xa, lòng tự hào pha với bao đau đớn, ngậm ngùi...

    Đa số, không, phải nói là tuyệt đại đa số, mới đúng, các liệt sĩ nằm đây đều có quê quán là các tỉnh phía Bắc! “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, đó là khẩu hiệu suốt thời đánh Mỹ ở miền Bắc. Nhưng biết làm thế nào? “Bởi chiến tranh không phải trò đùa”, rất, rất nhiều người ra đi đã không ngày trở lại! Họ đã hóa thân thành cây cỏ, đất đỏ, trời xanh Tổ quốc. “Người bạn tôi mang áo nhuốm đào, thành cờ cuốn lên cao”, từ trong chống Pháp, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã có một câu hát như vậy. Tôi cũng đã nhìn thấy 3.000 chiếc “áo nhuốm đào” đó trên lá cờ cắm ở nghĩa trang TP Plei-cu buổi ấy. Và, còn hơn thế rất nhiều nữa, vì biết bao liệt sĩ chưa được đưa về các nghĩa trang, dù không ai muốn vậy. Ở nghĩa trang này cũng có những ngôi mộ chôn chung, vì không thể xác định danh tính từng liệt sĩ, từng bộ hài cốt được!

    Người quản trang nói, hài cốt anh tôi có đủ “lý lịch”: Sau giải phóng, Trung đoàn đã quy tập lần một, đưa từ trận địa về nghĩa trang Chư Pả, sau này lại được quy tập về nghĩa trang thị xã, vì thế không thể lẫn được.

    Từ hôm ấy, trong suốt đợt đi công tác, cứ chiều chiều, tôi lại về ngồi cạnh mộ anh tôi trong nghĩa trang, thầm trò chuyện cùng anh và đồng đội của anh ở đó.

    Thế rồi, khi tôi đến Bệnh viện 211, vốn được bác sĩ Lê Cao Đài xây dựng từ đầu cuộc chiến ở Tây Nguyên, tôi được đọc nhật ký của ông. Ông viết rằng, trong tất cả các thương binh, bệnh binh chống Mỹ vĩnh viễn ra đi từ Bệnh viện 211, chỉ có 15% là do bom đạn, còn 85% là do các nguyên nhân khác, mà sốt rét là nguyên nhân lớn nhất.

    Người phụ trách mảng công tác liệt sĩ của tỉnh thì nói, hiện tỉnh chưa dám cho các gia đình liệt sĩ ở các tỉnh phía Bắc đưa hài cốt các liệt sĩ hồi hương, vì nếu thế thì, các nghĩa trang liệt sĩ phía Nam gần như... trống rỗng!

    Trước đó, tôi đã nghe đội tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Việt Nam tại Lào của Quân khu 4 kể rằng, một hôm đang đi giữa rừng Lào, cả đội sửng sốt vì trông thấy một chiếc võng Ca-pơ-rông mắc vắt vẻo tận... trên trời! Họ trèo lên hạ xuống: Trong võng là hài cốt còn nguyên của một liệt sĩ. Họ đoán rằng, người chiến sĩ này đi lẻ hoặc lạc đơn vị, bị sốt rét hoặc bị đói, đã mắc võng vào hai cái cây non mà nằm nghỉ rồi không bao giờ thức dậy nữa. Lâu ngày, hai cái cây lớn lên và anh đã được “phong táng” (chôn trong gió) như vậy!...

    Tất cả những thông tin phi thường ấy, tất cả những cảm xúc mạnh mẽ ấy đã khiến tôi không thể không viết. “Viết ra”, chứ không phải là “sáng tác” như các nhà phê bình văn học vẫn nói! Vâng, tất cả đều là chuyện thực, đều là tình thực, không phải “sáng tác” cái gì cả.

    Thế là, tôi đã “viết ra” bài thơ Ba ngàn mộ, trắng một mầu như mây

    Bài thơ này, tôi đã đọc và sau đó đã hóa (đốt) ở nghĩa trang Plei-cu năm ấy (1999).

    Cùng với bài thơ trên, tôi còn hóa một bài thơ viết riêng cho anh trai tôi. Đó là bài Khóc anh trai (thơ bên mộ liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn ở nghĩa trang thị xã Plei-cu, Gia Lai).

    Thật kỳ lạ, và đến giờ tôi cũng không hiểu nổi; là khi về đến Hà Nội, tôi đưa hai bài thơ ấy cho một số tờ báo xem thì họ bảo, không thể in được, vì quá “bi lụy”!

    Thế là tôi đưa hai bài thơ tới Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Tổng biên tập lúc ấy, nhà thơ Hữu Thỉnh, đã chọn in ngay.

    Lịch sử, hình như chưa từng đi ra từ sự hoan hỉ, từ lạc thú.

    Lịch sử thường đi ra từ những nỗi đau lớn của dân tộc.

    Mà những nỗi đau lớn của dân tộc, lại là cấp số cộng, là cấp số nhân, của những nỗi đau sâu xa của mỗi người trong cộng đồng ấy. Sao có thể đọc, có thể biên tập hời hợt, nông cạn như thế được?

    Các anh chị biên tập trang Tiếp lửa truyền thống của Báo Quân đội nhân dân, bảo tôi viết “đầu cua tai nheo” về hai bài thơ nói trên. Tôi không thể từ chối. Nhưng trong lòng tôi vẫn tự hỏi, đến giờ, không biết còn có người nào nghĩ như người ta bảo là quá “bi lụy” nữa không? Vì, nếu cứ biên tập và dạy văn kiểu ấy, học sinh ta sẽ ngày càng “sợ văn, ghét văn, dốt văn” như báo chí đã và đang đề cập đến trong những năm này. “Văn học là nhân học”, có ai hoài hơi mà đi ghi chép về những người luôn hoan hỉ, luôn sống trong lạc thú trước những nỗi đau có thật của con người, của cộng đồng không?

    Chẳng có dân tộc nào lại mong con em mình hy sinh thật nhiều để mình trở thành anh hùng. Nhưng một dân tộc anh hùng thì tất phải nhân nghĩa và phải ghi lòng tạc dạ, phải viết về sự hy sinh của các liệt sĩ đúng như nó đã xảy ra trong lịch sử, đúng với tình cảm tự nhiên của con người.
    Hai bài thơ: Khóc anh trai; Ba ngàn mộ, trắng một màu như mây

    Đại tá ĐỖ TRUNG LAI

    (Nguyên Trưởng phòng Báo QĐND cuối tuần)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...