Người đồng đội mà nhà văn Khổng Minh Dụ nhắc đến trong bài thơ chính là Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Giai, sinh năm 1940, quê ở làng Liễu Khê (Song Liễu, Thuận Thành, Bắc Ninh). Tháng 12-1960, Nguyễn Văn Giai tình nguyện nhập ngũ...
Thiếu tướng, nhà văn Khổng Minh Dụ, nguyên chiến sĩ tình báo kể lại một kỷ niệm thời chiến: "Hôm ấy, địch càn vào chỗ chúng tôi. Hết trận càn, kẻ địch đã chở thi thể các chiến sĩ ta về Sân vận động Trảng Bàng rồi đem chôn ở đâu không ai biết. Sau ngày đất nước thống nhất, tôi đã đi tìm nhiều lần không được. Gần đây, tôi trở lại Trảng Bàng. Đó là nơi mà người bạn chiến đấu thân thiết của tôi đã nằm lại vĩnh viễn nhưng cho tới nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Dừng xe ở Sân vận động Trảng Bàng, tôi đốt một tuần hương tưởng niệm đồng đội đã hy sinh ở An Tịnh. Âm thầm nhớ bạn, tôi viết một bài thơ tặng bạn với tiêu đề “Tìm bạn”: "Chiều nay tôi về thăm bạn/ Vợi bớt bao niềm nhớ thương/ Nỗi đau dài theo năm tháng/ Theo tôi trên mọi nẻo đường/ Mỗi lần trở lại Trảng Bàng/ Bấy nhiêu lần lòng se thắt/ Tôi đốt bao nhiêu tuần nhang/ Bấy nhiêu lần rơi nước mắt/ Hơn 30 năm xa cách/ Bạn đi biền biệt không về/ Bạn ngủ sâu trong lòng đất/ Trảng Bàng thành một miền quê/ Linh thiêng bạn về Liễu Khê/ Thăm mẹ cha vừa xa khuất/ Quê hương ngàn lần đổi khác/ Mình tôi năm tháng đi về/ Tình thương một thời trận mạc/ Tôi thành con đất Liễu Khê...".
![]() |
|
Anh hùng Nguyễn Văn Giai |
Người đồng đội mà nhà văn Khổng Minh Dụ nhắc đến trong bài thơ chính là Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Giai, sinh năm 1940, quê ở làng Liễu Khê (Song Liễu, Thuận Thành, Bắc Ninh). Tháng 12-1960, Nguyễn Văn Giai tình nguyện nhập ngũ. Sau một thời gian công tác, anh được phong quân hàm Trung sĩ, giữ chức tiểu đội trưởng và được kết nạp Đảng năm 1962. Năm 1964, anh xuất ngũ, về địa phương được xã viên tín nhiệm bầu vào ban chủ nhiệm Hợp tác xã. Không lâu sau đó, tháng 1-1965, ngành Cơ yếu Việt Nam chuẩn bị đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ đặc biệt. Nguyễn Văn Giai được Tỉnh ủy Hà Bắc (cũ) tiến cử theo chế độ tuyển chọn của ngành Cơ yếu. Nhận nhiệm vụ trong lúc hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, bố mẹ già yếu, con còn nhỏ nhưng với tinh thần của người đảng viên, anh đã thuyết phục người thân trong gia đình yên tâm để lên đường làm nhiệm vụ.
Tháng 3-1965, cấp trên có chủ trương chuyển lớp Cơ yếu Dân Chính Đảng sang quân đội. Nguyễn Văn Giai đã làm đơn tình nguyện trở lại quân ngũ. Với kết quả học tập đạt loại giỏi, anh được điều về Cục Nghiên cứu (Bộ Tổng tham mưu) và được cử thẳng vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, giữ cương vị Tổ trưởng cơ yếu Cụm V4/B49 Tình báo Miền. Đây là cụm tình báo chiến lược, trực tiếp chỉ đạo một số lưới điệp báo hoạt động trong Bộ Tổng tham mưu ngụy. Là những lưới tình báo đặc biệt quan trọng, đòi hỏi tính cơ mật rất cao. Nếu để sơ hở quy ước hoặc lộ bí mật trong quá trình chuyển nhận tin tức, hậu quả sẽ khôn lường. Vì vậy, tổ cơ yếu của Nguyễn Văn Giai (bí danh Hai Dần) phụ trách phải thực hiện nhiều loại kỹ thuật mật mã khác nhau, nhất là loại quy ước mật mã để giao cho cán bộ tình báo hoạt động trong lòng địch trực tiếp sử dụng. Với tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo trong công việc, Hai Dần cùng tổ cơ yếu đã tìm ra nhiều biện pháp vận dụng các loại kỹ thuật mật mã để mỗi hướng liên lạc với một cán bộ tình báo đều có quy ước riêng. Ngoài ra, anh còn nghiên cứu, rút ngắn thời gian các cuộc liên lạc; giữ vững yếu tố bí mật, bất ngờ. Một trong những sáng kiến của Hai Dần được ứng dụng là sử dụng loại mật mã phức tạp, chỉ người trong cuộc mới nhận dạng được, nhờ đó đã vô hiệu hóa các thủ đoạn định hướng chặn thu, giải mã của địch, bảo đảm độ an toàn cao cho các lưới tình báo khi hoạt động.
Trong suốt thời gian hoạt động ở cửa ngõ ven đô Sài Gòn, nhất là giai đoạn chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Hai Dần đã dịch và chuyển nhận hàng trăm bức điện, bảo vệ an toàn quy ước mật mã và giữ liên lạc thông suốt, truyền đạt kịp thời những tin tức liên quan đến các khu vực đánh phá của máy bay chiến lược B52 để bộ đội ta phòng tránh an toàn. Các tin tức chiến thuật, chiến lược khác đã phục vụ đắc lực cho cấp trên trong chỉ huy tác chiến.
![]() |
|
Một người dân thường là nạn nhân trong trận càn của địch tại Trảng Bàng (Tây Ninh) năm 1968. Ảnh tư liệu |
Đầu tháng 12-1967, để đáp ứng yêu cầu của trên về chỉ đạo lưới tình báo hoạt động trong nội thành Sài Gòn - Gia Định, Hai Dần cùng tổ của mình được lệnh bí mật xây dựng vị trí đứng chân ở căn cứ lâm thời thuộc ấp An Bình (An Phú, Trảng Bàng, Tây Ninh) làm nhiệm vụ liên lạc với các lưới tình báo hoạt động trong nội thành. Đây là khu vực địch thường xuyên càn quét, chà đi xát lại nhiều lần và đã trở thành "vùng trắng".
Đêm 26-12-1968, khi đang thực hiện phiên liên lạc với cán bộ từ nội đô Sài Gòn ra thì tổ cơ yếu của Hai Dần bất ngờ gặp quân địch càn vào ấp. Phát hiện thấy lực lượng của ta mỏng, địch sử dụng hỏa lực mạnh và siết chặt vòng vây hòng bắt sống các chiến sĩ tình báo. Cuộc chiến đấu không cân sức đã diễn ra. Hai Dần hội ý rất nhanh: Phương án 1: Nếu trụ lại chiến đấu cầm chân địch thì có thêm thời gian hủy tài liệu, mật mã, giữ được bí mật nhưng có thể cả tổ sẽ hy sinh. Phương án 2: Nếu tìm "con đường máu" để rút lui thì có thể có người bị bắt, tài liệu không hủy kịp, dễ lộ bí mật. Toàn tổ đã chọn phương án 1. Sau khi hủy xong tài liệu, Hai Dần cùng đồng đội đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh. Trận càn kết thúc, cay cú điên cuồng trước sự chiến đấu dũng cảm, kiên cường của Hai Dần và đồng đội, địch đã buộc dây vào cổ thi thể Hai Dần và đồng chí Sáu Bia, dùng ô tô kéo lê trên mặt đất, đi qua các ngõ xóm. Quần chúng trong vùng phẫn nộ trước hành động dã man của địch, tổ chức đấu tranh đòi đem các anh về mai táng nhưng bọn ác ôn tuyên bố: "Hai tên Việt Cộng gan lì này phải moi gan chúng nó xào nhậu chơi". Sau nhiều giờ phơi nắng, tối hôm đó, địch đẩy thi hài hai liệt sĩ xuống hố sâu khu vực Sân vận động Trảng Bàng và cho xe ủi lấp.
Ông Nguyễn Thái Hòa (Ba Phẩm), người may mắn thoát hiểm trong trận càn hôm đó là người chứng kiến giờ khắc hy sinh cũng như hành động sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tài liệu mật của Hai Dần và đồng đội kể lại: "Hình ảnh anh Hai Dần đã khắc sâu trong tâm khảm đồng bào, đồng chí với sự cảm phục và thương tiếc vô hạn. Để tưởng nhớ anh, bà con trong ấp, nhà nào cũng lập bàn thờ và cúng cơm cho anh theo tập quán Nam Bộ. Đoàn thanh niên địa phương đã lấy tên Hai Dần đặt tên cho tổ chức Đoàn của mình, nguyện phấn đấu noi gương anh".
Chiến công và tinh thần cách mạng kiên cường của Hai Dần đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận xứng đáng. Ngày 22-8-1998, Hai Dần được Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
HỒNG HẢI
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận