Một cô gái xinh đẹp, trẻ trung yêu và tình nguyện lấy anh thương binh bị hỏng hai mắt rồi theo anh về quê sau ngày đất nước giải phóng. Ba mươi năm, một cái xe đạp, chị chở anh đi khắp mọi làng quê ở huyện Thăng Bình-tỉnh Quảng Nam để vận động những người cùng cảnh ngộ như anh thành lập hội để tạo việc làm cho họ. Không biết gọi chị thế nào, bởi không một chức danh, chỉ có vỏn vẹn một cụm từ giản
Chiếc xe đạp
Đất Thăng Bình chỉ cát là cát, chiếc xe đạp lại quá cũ, ba mươi năm chị Nguyễn Thị Thanh “trầy trật”... chở chồng. Chiếc xe ấy, họ có từ thời sau giải phóng. Chị Thanh bảo, bây giờ chị có thể chở anh bằng xe máy, nhưng cả anh và chị đều thống nhất: đi xe đạp. Đó là cả sự mơ ước một thời của người con trai xứ Quảng Nguyễn Ngọc Sinh. Là thế hệ thanh niên sống trong vùng địch chiếm đóng, phải trốn nạn bắt lính, lớn lên trong nghèo khó, chỉ mơ ước sau này đất nước hết bóng giặc được đạp xe đạp đi khắp quê hương...
![]() |
|
Chị Thanh và anh Sinh trên chiếc xe đạp cũ |
Câu chuyện chiến đấu của Sinh khá dài nhưng anh chỉ muốn kể một trận ác liệt nhất, anh bị thương hỏng cả hai mắt. Đó là trận đọ sức trên cầu Tư Thiết-thị trấn Hà Lam, một trung đội của ta chiến đấu với 3 đại đội địch. Đó là... tưởng thế, nhưng khi lực lượng của ta vào tới nơi, chúng tăng cường đến 2 tiểu đoàn. Khi cửa được mở thông, Sinh bị thương vào mắt. Trong tay anh còn hai quả lựu đạn, một quả mở sẵn chốt, ngồi chờ địch. Còn một quả kia thủ đó, nếu bị bắt sống anh sẽ tự sát và cho địch chết cùng. Đồng đội phát hiện ra anh, đóng chốt lựu đạn và đưa đến bệnh xá, cũng là lúc anh ngất xỉu. Khi tỉnh lại, câu hỏi đầu tiên của anh là trận đánh đó thế nào? Mọi người bảo rằng thắng lợi. Lấy chiếc ra-đi-ô nghe tin tức, lúc đó anh như muốn nhảy lên mà hét. Về sau, anh được biết thêm trận đánh đó dù thắng lợi nhưng trung đội của anh hy sinh một nửa...
Nằm trong bệnh xá, anh buồn vì không được tiếp tục cầm súng chiến đấu cùng các đồng chí của mình. “Nhưng rồi, những buồn tủi đó cũng mất hết khi tiếp xúc với những đồng đội tôi nằm cạnh giường bệnh. Đó là anh Thanh, người Quảng Nam, bị thương nặng nhưng anh vẫn chơi đàn măng-đô-lin, sau đó một ngày anh chuyển ra tuyến sau, không biết giờ anh ở đâu, còn hay mất. Đó là anh Nam, người Hà Nội, bị thương nặng biết mình không qua khỏi nhưng vẫn không rên, không kêu. Anh kể chuyện như thường, kể về Bác Hồ, về những đường phố Hà Nội, về mẹ anh để mấy tiếng đồng hồ sau đó, anh không bao giờ kể được nữa...”. “Tôi và nhà tôi gặp nhau đầu năm 1971, lúc đó cô ấy làm ở nông trường chè Phú Thọ. Năm 1967, tôi được ra Bắc an dưỡng, tôi có người bà con trên nông trường chè, họ đưa tôi lên thăm nông trường và tôi đã gặp cô ấy trên đó”-anh Sinh nhớ lại. Nói về nông trường, trong ký ức chị Thanh không chỉ là những tháng ngày vất vả hay là một tình yêu lãng mạn mà nó gắn liền với những chữ “quyết” trong đời chị. Cái quyết thứ nhất là quyết không ở quê lấy chồng mà lên nông trường xin làm công nhân. Cái quyết thứ hai là cho dù bạn bè và người thân ngăn cản, vẫn yêu và sẵn sàng lấy anh thương binh mù lòa ấy. Cái quyết thứ ba là rời bỏ nông trường với bao kỷ niệm để theo chồng trên những bước đường... “Nói chuyện với anh, tôi thấy anh ấy rất dễ gần, nhã nhặn và có hiểu biết. Lúc đó tôi nghĩ, anh bị mù cũng là vì dân vì nước, và giờ lại sống xa gia đình, không được tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội, tôi đã chia sẻ với anh những nỗi buồn đó. Khi quyết định lấy anh, mẹ tôi nói: “Bao nhiêu người lành lặn, cũng tử tế đàng hoàng thì con không chịu lấy!”. Ngày đám cưới tôi mẹ khóc nhiều lắm. Tôi có nói với mẹ rằng, chúng con tin là sẽ không làm cho mẹ khóc nữa đâu...”.Hồi ở nông trường khó khăn, đồng phụ cấp của anh ít, lương chị eo hẹp, có những lúc chị nhịn cho anh ăn, anh không nhìn thấy nên không biết. Chị quyết không xin sự giúp đỡ của gia đình. Mẹ hiểu, đến con cá mẹ cũng mang lên. Dù ngăn cấm nhưng khi lấy chồng rồi, mẹ không hề than phiền lấy anh sẽ khổ và mẹ chỉ động viên chị: “Hãy thương lấy nó. Nó không còn mắt, con sẽ làm đôi mắt của nó”. Một năm sau, khi đứa con đầu của anh chị được 4 tháng, mẹ chị ốm nặng không qua khỏi...
|
Bánh xe hạnh phúc vẫn mãi quay đều |
Khi đứa con được 1 tuổi, chị xin vào trại chăm sóc thương binh. Ban đầu, chị chăm sóc những thương binh liệt. Có những người không muốn ăn, chị phải dỗ dành như trẻ con. Hết thương binh liệt lại đến thương binh mù, ai chị cũng yêu quý. Đơn giản, chị tìm thấy hình ảnh anh trong họ, những con người đã để lại một phần máu xương, cơ thể và tuổi trẻ lại chiến trường cho đất nước được thanh bình. Chị chăm sóc họ bằng tất cả tình yêu thương và trách nhiệm, như chị đang chăm sóc anh. Chị có kể với họ rằng, chồng chị cũng là thương binh, mù hai mắt, họ đã khóc và họ tin rằng, ở cuộc đời, tình yêu thương mới là tất cả. Và tình yêu thương của chị đã giúp các anh thương binh vượt qua được nỗi đau thể xác, sống yêu đời, yêu người hơn. Khi chị rời trại, các anh đã tặng chị những bài tình ca qua tiếng đàn ghi-ta gỗ mà các anh đã tập bấy lâu nay, nhiều bài anh em lấy cảm xúc từ hình ảnh chị.
Năm 1975, đất nước thống nhất, anh hồi hộp về lại quê hương. Chị cùng anh về lại miền quê ấy, thực hiện cái ước mơ giản dị của anh là sẽ đèo anh đi qua những chặng đường quê trên chiếc xe đạp. Mỗi lần anh hỏi chị rằng có phải quê hương bị bom đạn sát phạt từng gốc cây không thì chị trả lời rằng màu xanh đang trở lại. Anh vào trại điều dưỡng Hội An, chị cũng về trại phục vụ thương binh mù ở đây.
Thời gian sau, anh xin về nhà an dưỡng, chị cũng về cùng anh. Bánh xe đạp lại quay đều mỗi ngày khi chị chở anh đến tận nhà những người mù vận động họ thành lập Hội. Qua bao cơn mưa, qua bao ngày nắng, bánh xe và hình ảnh người vợ chở chồng thành quen thuộc trong trí nhớ mỗi người dân nơi đây. Có lần đang đi, gặp mưa, xe đứt xích, hai vợ chồng lại phải cuốc bộ. Cũng không biết bao lần trầy trật, chị phải bới cát tìm kính cho anh... Kể cả những người vô cảm nhất khi so đo việc lấy người sáng, người mù, nhìn anh chị cũng phải thốt lên: Hạnh phúc!
Năm 1983, Hội người mù huyện Thăng Bình được thành lập. Từ chỗ đi vận động từng người một vào hội, anh chị đạp xe đi mọi nơi vận động kinh phí để đào tạo nghề cho người mù. Khi Nhà nước có chính sách cho vay vốn, anh, với tư cách Chủ tịch hội, đã chớp cơ hội đó để cho người mù được vay kinh phí học nghề, với phương châm, phải tìm cho họ những “hy vọng ánh sáng”. Gần 30 năm, những người mù ở hội từ chỗ lớ ngớ chẻ tăm, giờ có thể thành thạo nhiều nghề như đan, thêu, tiếp cận máy vi tính... Và cái quan trọng, họ đã có thể tự lao động nuôi sống mình, nuôi sống vợ con...
Chị từng vinh dự được đi dự Hội nghị vợ thương binh và người phục vụ thương binh tiêu biểu toàn quốc ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002. Bây giờ, anh chị đã ngoại ngũ tuần, con cái trưởng thành và cũng đã lập gia đình. Chiếc xe đạp năm nào anh chị vẫn giữ và chị vẫn dùng nó để chở anh đi đến nhà những người cùng cảnh ngộ như anh, chở anh đến gặp bạn bè và hội họp...
Bài và ảnh: Hoàng Nguyên Vũ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận