Tôi gặp Đại tá-Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đắc Thắng trong một buổi giao lưu truyền thống về bộ đội Hải quân. Biết tôi là phóng viên báo Quân đội nhân dân, đại tá Hồ Kiêm kéo tôi lại nói nhỏ: “Chuyện tình của chú Thắng với cô Sáu Thùy vẫn được các chú gọi là mối tình “xuyên biển Đông”...
Tôi gặp Đại tá-Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đắc Thắng trong một buổi giao lưu truyền thống về bộ đội Hải quân. Biết tôi là phóng viên báo Quân đội nhân dân, đại tá Hồ Kiêm kéo tôi lại nói nhỏ: “Chuyện tình của chú Thắng với cô Sáu Thùy vẫn được các chú gọi là mối tình “xuyên biển Đông”. Tôi tìm đến gặp chú Thắng. Và hôm nay, tôi đã có được “cuốn phim quay ngược” về chuyện tình ấy để chia sẻ với bạn đọc chuyên trang Tiếp lửa truyền thống...
![]() |
|
Đại tá-Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đắc Thắng tại đêm giao lưu “Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển” |
Ngày ấy trước tình cảm mặn nồng của hai người, đại diện đơn vị hai bên tổ chức lễ đính hôn (ăn hỏi) cho hai người, đơn sơ, giản dị nhưng ấm cúng vô cùng. Anh tặng chị một tấm hình. Chị cũng trao cho anh một tấm hình, một chiếc khăn thêu và chiếc nhẫn 2 chỉ vàng, đến nay vẫn còn nguyên vẹn...
Lễ ăn hỏi vừa xong, đơn vị anh nhận lệnh lên đường ra Bắc. Xẩm tối, khi chị Sáu tiễn người yêu xuống bến, anh Thắng nói về những khó khăn, thử thách còn chất chồng phía trước. Các thủy thủ Đoàn tàu không số trước mỗi chuyến ra đi đều không hẹn ngày về. Mỗi lần đơn vị tổ chức lễ tiễn anh em thủy thủ xuống tàu giống như một lần Tổ quốc truy điệu sống. Chị Sáu thấu hiểu nỗi niềm của anh. Chị vừa động viên, tiếp sức cho anh, vừa tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp cho hạnh phúc của hai người. Chị nói:
- Duyên phận đã buộc em vào anh. Nếu anh hy sinh em nguyện ở vậy để giữ vẹn lời thề sắt son.
Thắng ôm chặt người yêu. Trong anh bỗng bừng lên một sức mạnh phi thường và niềm tin vào hạnh phúc của mình. Biển Đông đang dậy lên những đợt sóng trào...
Thắng trở ra miền Bắc báo cáo chuyện riêng tư với đơn vị và chờ dịp thuận lợi sẽ vào Cà Mau làm lễ cưới. Nhưng tình hình trên biển ngày càng diễn biến phức tạp. Rất nhiều chuyến tàu của ta trên đường vận chuyển vũ khí vào Nam đã không thể tới đích. Nhiều đoàn, thủy thủ đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ tàu. Khi không thể cứu tàu được, họ buộc phải cho nổ tung con tàu để xóa dấu vết. Người và tàu anh dũng nằm lại vĩnh viễn giữa biển khơi. Thắng liên tục được điều động làm nhiệm vụ đưa tàu cập các bến khác nhau. Lần anh chở vũ khí vào Quảng Ngãi bị địch bao vây. Anh cùng đồng đội chiến đấu quyết tử chống lại kẻ thù mạnh gấp nhiều lần, và cuối cùng không để vũ khí lọt vào tay địch, buộc phải phá hủy tàu để xóa dấu vết. Khi cột khói khổng lồ phủ trùm lên con tàu, ai cũng nghĩ anh và đồng đội đã hy sinh. Tuy nhiên, trước khi kích nổ phá hủy con tàu, các anh đã mưu trí thoát hiểm bằng xuồng, lướt qua “đường tóc” giữa mưa bom bão đạn của kẻ thù, sau đó tìm đường vượt Trường Sơn ra Bắc trở về đơn vị. Ước vọng đưa tàu vào Nam, kết hợp cưới vợ không thành, Thắng nén tâm tư, ngày đêm cầu mong cho Sáu được bình an...
Đầu năm 1968, Đoàn 962 được Quân khu chọn lên chiến đấu ở Lộ Vòng Cung (Cần Thơ). Chị Sáu xin gia nhập lực lượng chiến đấu, trong lòng nuôi hy vọng sẽ có dịp tìm đường ra Bắc gặp anh Thắng. Hy vọng không thành vì tình hình ở Lộ Vòng Cung diễn ra rất căng thẳng, ta và địch giành nhau từng tấc đất. Chị làm nhiệm vụ ở đội phẫu, cùng đồng đội chiến đấu chống lại nhiều tiểu đoàn ngụy quân ở Chương Thiện. Nhiều lần đội phẫu của chị bị bom địch đánh sập hầm. Chị bị thương nặng, phải nằm điều trị tại Quân y Viện 121 hơn một năm. Ra viện chị lại tiếp tục lao vào khói lửa đạn bom. Cuộc sống từng giờ, từng phút đối mặt với cái chết nhưng trong trái tim chị, tâm hồn chị, không lúc nào nguôi nỗi nhớ anh, mặc dù từ ngày anh chị làm lễ ăn hỏi đến nay, cả hai bặt tin nhau...
Tháng 6-1968, đồng đội của chị đi họp trên Quân khu về thông báo một tin như sét ngang tai: Anh Thắng đã hy sinh cùng con tàu giữa biển khơi. Chị Sáu choáng váng, ngã qụy trước nỗi đau quá lớn này. Sau nhiều ngày nằm liệt giường, khóc cạn nước mắt, chị gượng dậy tìm gặp thủ trưởng đơn vị xin được làm lễ truy điệu và để tang anh. Nghị lực và lòng căm thù giặc giúp chị bình phục, tiếp tục lao vào cuộc chiến. Chị được điều về làm Trạm xá trưởng Đoàn 962.
Đầu năm 1971, việc vận chuyển vũ khí bằng tàu sắt vào miền Nam không thực hiện được do địch phát hiện. Để đảm bảo nguồn vũ khí viện trợ cho chiến trường miền Nam, ta đã nghiên cứu, cải tiến loại tàu gỗ 2 đáy, đóng theo kiểu tàu đánh cá để che mắt địch, anh Thắng chỉ huy tàu chuyển vũ khí vào bến Đầm Cùng, Cà Mau, trong lòng khấp khởi mong chờ giây phút được gặp lại chị. Hơn 7 ngày đêm vượt biển, tàu của anh 3 lần bị tàu địch cặp vào xét hỏi, song nhờ ngụy trang khéo léo nên địch không phát hiện được. Khi những chuyến tàu chở vũ khí đã cập bến an toàn, cấp trên của chị Sáu biết tin anh Thắng chưa hy sinh mà đang có mặt ở Cà Mau, bèn liên lạc, trao đổi với chỉ huy căn cứ tổ chức cho hai người một cuộc tái ngộ thật bất ngờ.
Chú Hai Đại, Chính ủy Đoàn 962 gọi Sáu lên, nói cho chị được nghỉ phép ít ngày về thăm mẹ. Chị Sáu vô cùng mừng rỡ vì đã hơn 9 năm đi kháng chiến biền biệt, chị chưa một lần về nhà. Chú Hai dùng xuồng chở Sáu đi. Đến gần nhà, chú Hai nói:
- Cháu đi cùng chú xuống Đá Bạc có chút công việc...
Cùng lúc đó, căn cứ cũng cử người đón Thắng từ nơi ở đến “bàn công việc”. Cuộc hạnh ngộ quá bất ngờ. Sự thật mà ngỡ như trong mơ. Sau giây phút bàng hoàng, chị Sáu lao đến ôm chầm lấy anh. Khoảnh khắc để đời đó là vào lúc 16 giờ ngày 23-9-1972. Hơn 8 năm trời biền biệt, tưởng anh đã nằm lại vĩnh viễn ở biển khơi, nào ngờ có ngày hôm nay. Hạnh phúc chan đầy nước mắt. Sáng hôm sau, lễ cưới của hai anh chị được tổ chức. Đơn vị dựng cho hai anh chị một căn chòi lá làm tổ ấm đón tuần trăng mật ở vườn chuối khu Đá Bạc, được ngụy trang cẩn thận để tránh máy bay địch. Khoảng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi qua mau, anh lại chia tay chị xuống tàu hành trình ra Bắc chở vũ khí. Gần một năm sau, chị sinh bé trai đầu lòng...
Bây giờ thì vợ chồng người anh hùng đang sống trong một mái nhà ấm cúng, hạnh phúc cùng 3 đứa con, 2 trai, 1 gái và những đứa cháu ngoan hiền ở thành phố Cần Thơ. Ở tuổi bảy mươi nhưng tâm hồn, trái tim ông bà vẫn tươi trẻ, lãng mạn như thuở đôi mươi.
- Dù hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt đến đâu, nếu ta có tình yêu cháy bỏng, niềm tin mãnh liệt, nghị lực lớn lao thì sẽ vượt qua được tất cả. Đừng bao giờ đầu hàng trước hoàn cảnh.
Bắt tay tôi thật chặt khi chia tay, ông tâm sự như một lời nhắn gửi...
Bài và ảnh: PHAN TÙNG SƠN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận