Mảnh đất biên cương nhiều gian khó đang từng bước thay da, đổi thịt nhờ những cán bộ quân sự vẫn ngày đêm bám biên, bám bản, bám đồng bào...
![]() |
|
Cán bộ đội sản xuất số 9 Đoàn sản xuất 46 hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn quả ở bản Tin Tốc B, xã Pú Hồng, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên |
Mường Lói, nơi đứng chân của Đoàn sản xuất 46, Đoàn kinh tế-quốc phòng B26 (Quân khu 2) song các đội sản xuất của Đoàn đã trụ bám ở hầu khắp các bản của các xã Mường Lói, Mường Nhà, Phình Giàng, Na Ư, Pú Hồng… thuộc hai huyện Điện Biên và Điện Biên Đông (Điện Biên), mang những dự án phát triển kinh tế-xã hội đến với đồng bào các dân tộc thiểu số. Mảnh đất biên cương nhiều gian khó đang từng bước thay da, đổi thịt nhờ những cán bộ quân sự vẫn ngày đêm bám biên, bám bản, bám đồng bào.
Cuộc sống mới thực sự bắt đầu kể từ khi có các đội sản xuất của Đoàn sản xuất 46 về triển khai thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội, làm công tác vận động quần chúng phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng đứng chân trên địa bàn nắm tình hình, củng cố hệ thống chính trị ở các thôn bản… Cuối năm 2002, sau khi khảo sát kỹ địa bàn, Đoàn sản xuất 46 về đóng quân tại xã Mường Lói, các đội sản xuất của Đoàn được phân công bám trụ ở 5 xã đặc biệt khó khăn của huyện Điện Biên và Điện Biên Đông. Họ hướng dẫn, chuyển giao các tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất cho bà con, thông qua thực hiện các dự án trồng cây lúa nước, ngô lai, sắn cao sản, trồng cây ăn quả, dự án nuôi bò theo nhóm hộ, nuôi cá… Làm sao thay đổi được nhận thức và khuyến khích bà con mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, tạo nền tảng cho các dự án của Đoàn phát huy tốt hiệu quả… là câu hỏi đặt ra. Bám sát phương châm: “Tháo gỡ từng bước, thực hiện khâu nào chắc khâu đó”, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã xây dựng nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ nhằm giáo dục nhận thức, xây dựng động cơ quyết tâm khắc phục khó khăn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đoàn đã tổ chức nhiều hội nghị bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn, tổng hợp kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng để phổ biến đến từng cán bộ, chiến sĩ; mở các lớp tập huấn cán bộ để trang bị các kỹ năng, phương pháp vận động quần chúng ở vùng dân tộc thiểu số, bồi dưỡng kiến thức về sản xuất, chăn nuôi…
Các đội sản xuất phân công cán bộ cùng lên nương với đồng bào để tìm hiểu những hạn chế trong sản xuất và những phương pháp canh tác phù hợp của điều kiện miền núi, kết hợp học tiếng địa phương để tuyên truyền, vận động bà con. Được sự giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền địa phương, các dự án trồng cây lúa nước, ngô lai, sắn cao sản, trồng cây ăn quả, trồng rau quanh bếp, quanh vườn của các đội sản xuất được triển khai ngay chính ruộng nương của đồng bào và được tiến hành qua các bước: Làm mẫu, làm thử, áp dụng đại trà… Các bước được tiến hành chặt chẽ, đúng trình tự, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời vận động nhân dân đến tham quan, học tập tại chỗ. Kết quả sau khi thu hoạch được đem đối chiếu với sản lượng của bà con trên cùng một diện tích, một thửa ruộng và phân tích, lý giải trong điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu như nhau mà phương pháp trồng cấy của các đội sản xuất lại cho năng suất, chất lượng cao hơn. Được chứng kiến từ đầu các công đoạn sản xuất và hiệu quả của phương pháp mới mang lại, bà con tin và hăng hái tham gia các dự án, lúc này các đội tiến hành cấp phát giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sâu, hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật theo hướng “cầm tay chỉ việc” cho bà con. Cho đến nay, các mô hình dự án trồng cây lúa nước trên diện tích 8ha được triển khai cho 51 hộ đã cho năng suất trung bình 4,83 tấn/1ha; 8ha ngô lai đầu tư cho 21 hộ, năng suất trung bình đạt gần 8 tấn/1ha và 2.500 cây ăn quả đầu tư cho 31 hộ đã phát triển tốt, bắt đầu cho thu hoạch… Đó thực sự là những kết quả có sức thuyết phục, động viên, khích lệ bà con tích cực tham gia thực hiện các dự án, trực tiếp giúp 38 hộ thoát nghèo. Ngoài ra, Đoàn đã đầu tư 45 con bò cho các nhóm hộ chăm sóc. Qua 5 năm đàn bò sinh trưởng tốt đưa tổng đàn lên 67 con. Các đội còn cử cán bộ và đội ngũ trí thức trẻ tình nguyện thường xuyên về các bản hướng dẫn kỹ thuật trồng cỏ voi, tiêm phòng dịch bệnh, vệ sinh chuồng trại, chống rét cho đàn gia súc của địa phương, cùng nhân dân làm hơn 500m mương phai dẫn nước phục vụ sản xuất. Những kết quả triển khai, thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội của Đoàn đã góp phần không nhỏ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương.
Chiều về, đỉnh Pu Sâng ẩn khuất trong mây, trên các con đường dẫn về các bản tiếng nói cười ríu ran của bà con đi làm nương về, đôi vai nặng gùi nông sản. Ông Mùa Giống Vàng, trưởng bản Tin Tốc B (xã Pú Hồng) hồ hởi: “Bây giờ cái đói không còn là mối lo chính nữa, nghe theo bộ đội, dân bản ta đang cố gắng làm cho bản ngày càng giàu hơn thôi”. Tôi mải nhìn theo làn khói bếp quyện trong sương núi và hình dung ra một buổi tối đầm ấm bên mỗi nếp nhà đồng bào khi chiều xuống mà thấy lòng nhẹ nhõm, thảnh thơi và thầm vui lây với niềm vui của những người lính và đồng bào vùng biên giới.
Bài và ảnh: TRƯƠNG VĂN ĐỊNH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận