Chủ Nhật, 06/07/2008, 09:09

    Ngành than: Còn dài nỗi lo xuất - nhập

    Thị trường than, cả trong và ngoài nước, cầu đã lớn hơn cung. Điều này cũng đồng nghĩa với việc ngành than đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong chiến lược phát triển bền vững, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia...

    No image available

    Thị trường than, cả trong và ngoài nước, cầu đã lớn hơn cung. Ảnh: Internet

    Chỉ tính riêng nhu cầu điện cho nền kinh tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, mỗi năm nước ta cần thêm khoảng 4.000MW. Hiện, tiềm năng thuỷ điện đã khai thác gần như cạn kiệt. Vì vậy, việc quy hoạch - xây dựng các trung tâm nhiệt điện đã được tính đến. Minh chứng là Quy hoạch điện VI với 7 trung tâm điện lực lớn đã được phê duyệt (Mông Dương, Nghi Sơn, Vĩnh Tân, Ô Môn, Trà Vinh, Sóc Trăng, Thái Bình) và một số trung tâm điện lực đang được nghiên cứu bổ sung ở các tỉnh: Hải Dương, Quảng Ninh, Nghệ An, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Bình Thuận. Điều này đồng nghĩa với việc cần một lượng lớn than để cung cấp cho các dự án này. Đó là chưa kể đến nhu cầu than phục vụ cho các ngành kinh tế trọng điểm khác, như: ngành xi măng, ngành giấy, ngành sản xuất phân bón,… và nhu cầu tiêu dùng cũng đang ngày càng gia tăng.

    Từ thực tế nhu cầu tiêu thụ than trong nước, ngành than ước tính cho các năm 2010 là 37 triệu tấn và đến năm 2025 là 308 triệu tấn, trong khi đó, sản xuất than đến năm 2010 ước đạt 47 triệu tấn và đến năm 2025 là 80 triệu tấn. Như vậy, đến năm 2010, Việt chỉ còn dư 10 triệu tấn để xuất khẩu(?!). Từ năm 2012, nước ta bắt đầu phải nhập khẩu than. Theo con số thực tế sản xuất và tiêu dùng hàng năm thì số lượng phải nhập dự kiến năm 2015 là 34 triệu tấn, vào năm 2025 là 228 triệu tấn.

    Vì thế, ngành than lên tiếng cảnh báo: để có đủ nguồn than phục vụ nhu cầu trong nước, kể từ năm 2012, nước ta sẽ phải nhập khẩu than !

    Trên thực tế thì không phải chúng ta không tính trước được điều này. Chính phủ đã trực tiếp chỉ đạo và giao cho ngành than chủ động trong việc tìm kiếm nguồn than nhập khẩu để phục vụ nhu cầu thiếu hụt trong tương lai. Cũng chính vì lẽ đó, trong đề án xuất khẩu than 2006 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (năm 2006) thì việc xuất khẩu than đá phải giảm dần để phục vụ nhu cầu trong nước. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu than sẽ duy trì ở mức 11 triệu tấn trong năm 2006 - 2007, năm 2008 giảm còn 10 triệu tấn, năm 2009 còn 9 triệu tấn và đến 2010 còn 8 triệu tấn.

    Tuy nhiên, theo con số thực tế của ngành than công bố năm 2007 thì ngành than đã sản xuất ra và tiêu thụ hết 40,9 triệu tấn than, tăng gần 10% so với năm 2006, trong đó, đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước hơn 17 triệu tấn, còn lại xuất khẩu 23,8 triệu tấn, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2006. Theo một tài liệu khác thì năm 2007, Việt đã xuất khẩu hơn 32,5 triệu tấn than, gấp 3 lần con số Chính phủ cho phép.

    Sự kiện 6 tháng đầu năm 2008, toàn ngành than khai thác được 23,6 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ 21,5 triệu tấn (trong đó tiêu thụ nội địa hơn 10 triệu tấn và xuất khẩu hơn 11 triệu tấn). Như vậy là số lượng than xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm của toàn ngành than đã nhiều hơn con số thực tế mà Chính phủ cho phép xuất khẩu của cả năm 2008 là hơn 1 triệu tấn. Đó là chưa kể nhiều triệu tấn than đã bị xuất lậu sang bên kia biên giới và trở thành sự kiện nóng hổi nhất về tình trạng xuất lậu khoáng sản trong 6 tháng đầu năm ở nước ta.

    Vì sao xuất khẩu than cứ ngày một tăng? Vì sao “trên bảo dưới không nghe” mặc dù nguồn cung than có hạn? Nhu cầu tiêu thụ than trong nước thì ngày một lớn. Vấn đề an ninh năng lượng đang có nguy cơ bị đe doạ… trong khi, chính ngành than cũng đang vấp phải một khó khăn lớn, đó là: nguồn nhập khẩu than từ nước ngoài vào hết sức khó khăn, thậm chí việc đầu tư khai thác mỏ than ở nước ngoài cũng không có khả thi.

    Tất cả, chỉ một câu trả lời, là “ăn xổi”, là lợi ích trước mắt, là “cái khó bó cái khôn”, là cần nguồn vốn để tái đầu tư sản xuất than, xuống sâu tới âm 500m, thậm chí sâu hơn ở vùng than Quảng Ninh và mở rộng nghiên cứu khai thác ở bể than vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Bởi nghịch lý hiện nay, ngành than đang có lãi nhờ vào xuất khẩu, còn giá bán than nội địa trong suốt nhiều năm qua, ngành than đang phải bù lỗ cho nền kinh tế. Giá than hiện bán cho ngành điện là 20USD/tấn, trong khi đó giá xuất khẩu hiện tại là 50 - 60 USD/tấn. Vì thế mà ngành than vẫn đang áp dụng giải pháp xuất khẩu khoảng hơn 20 triệu tấn mỗi năm (trong dài hạn) khi mà ngành than dự báo là tất cả sản lượng than sản xuất ra không thể đáp ứng đủ nhu cầu trong nước.

    Thế nhưng, trên thực tế, giá than mà ngành than và ngành điện đàm phán, nhập khẩu về nước đang ở mức 160 USD/tấn, tức là gấp khoảng 3 lần giá than mà ngành than đang xuất khẩu ra nước ngoài. Nếu tính thiệt hại do chênh lệch giá trên số lượng than đã xuất đi trong năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008, chúng ta đã mất đi hàng tỷ đô la. Đó là chưa kể đến việc, mỗi năm chúng ta đã xuất đi một nguồn than dự trữ lớn gấp 10 lần lượng than chúng ta vừa khó khăn lắm mới ký kết được (hợp đồng khung) với để mua than cho dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (với sản lượng 3,5 triệu tấn/năm).

    Thiết nghĩ, việc Tập đoàn công nghiệp Than & Khoáng sản Việt Nam (TKV) kiến nghị đưa than vào danh mục mặt hàng độc quyền nhà nước tương tự như quản lý vật liệu nổ công nghiệp và cần có cơ chế khuyến khích sản xuất than tại Quảng Ninh và đồng bằng sông Hồng là hoàn toàn có cơ sở. Bởi có cơ chế khuyến khích phát triển mỏ thì chúng ta mới có thể chủ động việc cung cấp than cho nền kinh tế. Tuy nhiên, than là nguồn tài nguyên khoáng sản không tái tạo được, số lượng có hạn, lại nằm sâu trong lòng đất nên rất khó khai thác. Vì thế, than được mệnh danh là “vàng đen” của Tổ quốc. Nếu chúng ta không biết cách quản lý chặt chẽ tài nguyên, không biết quý trọng, giữ gìn, dành dụm để phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước mà chỉ vì cái lợi trước mắt thì trong dài hạn, chúng ta không chỉ mất đi nguồn tài nguyên đó, không chỉ mất đi hàng tỷ đô la mỗi năm do chênh lệch giỏ xuất - nhập, mà nguy cơ chúng ta không còn than, không nhập khẩu được than để phục vụ cho lợi ích quốc gia trong dài hạn.

    Do vậy, cần áp dụng ngay đề án xuất khẩu than đã được Chính phủ phê duyệt để hạn chế tối đa và tiến tới ngừng hẳn việc xuất khẩu than để đất nước bớt đi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu trong dài hạn. Không xuất khẩu không có nghĩa là chúng ta không tuân thủ theo quy luật của thị trường. Một vấn đề đương nhiên ai cũng hiểu, rằng bất cứ thứ gì, phải khi nội tại đã thoả mãn yêu cầu nền kinh tế trong nước chúng ta mới đem bán, hoặc chí ít, quy luật cung – cầu trên thị trường thế giới, chuyện xuất – nhập phải tương đương về chất lượng và giá cả. Không ai đem bán đi thứ mình đang thiếu với một giá rẻ mạt, sau đó lại nhập về chính thứ mình vừa bán với giá cắt cổ. Với than, thực trạng này đang là vậy!

    Theo VOV (Nguyên Linh)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...