Thứ Sáu, 15/12/2006, 14:30

    Nhật ký bằng thư

    Đưa tôi vào ngôi nhà cổ 4 gian rêu phong cũ kỹ có bộ tràng kỷ bằng tre đã sậm màu thời gian, ông đi lại chiếc tủ chè, cẩn thận kéo ra chiếc ba-lô con cóc bạc phếch, thủng lỗ chỗ như bị đầu đạn AR15 găm vào. Lấy trong đó ra một gói nilông hình chữ nhật đưa cho tôi, ông nói: “Đây là những kỷ niệm trong đời quân ngũ mà tôi còn giữ được”.

    No image available

    Thương binh nặng Nguyễn Thanh Giao soạn giáo án ở Trung tâm điều dưỡng tỉnh Thanh Hóa

    Đưa tôi vào ngôi nhà cổ 4 gian rêu phong cũ kỹ có bộ tràng kỷ bằng tre đã sậm màu thời gian, ông đi lại chiếc tủ chè, cẩn thận kéo ra chiếc ba-lô con cóc bạc phếch, thủng lỗ chỗ như bị đầu đạn AR15 găm vào. Lấy trong đó ra một gói nilông hình chữ nhật đưa cho tôi, ông nói: “Đây là những kỷ niệm trong đời quân ngũ mà tôi còn giữ được”.

    Ở trại điều dưỡng thương binh nặng tỉnh Thanh Hóa, từ cô nhân viên đến ông giám đốc đều gọi ông là “anh cả”. Không phải vì ông nhiều tuổi nhất, mà vì đã có một thời gian ông làm giáo viên dạy văn hóa cho những thương binh nặng. Ông là Nguyễn Thanh Giao, thương binh 1/4.

    Một lần vào công tác ở Trung tâm, khi đi cùng đồng chí Giám đốc xuống khu trại nuôi thương binh tâm thần, tôi thấy ông “áo may ô, quần cộc”, mồ hôi nhễ nhại đang mải mê soạn giáo án. Sau lần quen biết ấy, ông đã coi tôi là người bạn, người đồng đội. Nhân ngày chủ nhật, ông mời tôi về nhà chơi. Trên đường đi, ông “bật mí”: “Tôi vẫn giữ được những bức thư của hai người ruột thịt và mấy cậu học trò từ ngày còn ở chiến trường Tây Nguyên thời 1967-1975. Những lá thư “gói” thời gian khổ đầy ắp kỷ niệm, tấm lòng nhân hậu, sự sẻ chia, tình đồng đội! Ông xem xong rồi trả lại tôi”.

    Đêm hôm ấy, ở nhà ông tôi chong đèn đọc hết 31 bức thư của bố mẹ ông gửi; thư của hai em; thư của học sinh và có cả những lá thư ông viết cho ông; viết cho người thân nhưng vì nhiều lý do mà chưa kịp gửi… Những lá thư ố vàng, giòn và rất dễ gẫy. Cảm động nhất là những lá thư của người anh và người em ruột gửi cho ông, nhiều dòng chữ đã bị nhòe. Đọc thư tôi hình dung ra cảnh ba anh em trai gặp nhau dưới tán cây xăng lẻ dịp tết 1967. Hôm ấy cậu em út Nguyễn Thanh Hải lôi từ chiếc bòng ra một thùng đại liên, trong chứa giò phong lan mũi hài nở hoa vàng rực. Còn anh cả Nguyễn Thanh Giá chúc tết hai em bằng 10 chiếc phong bì và một tập mỏng pô luya hồng “Để các chú trẻ viết thư cho các cô gái ở hậu phương thêm mùi mẫn”... Sau lần gặp nhau hiếm hoi ấy, anh cả Nguyễn Thanh Giá đã mãi mãi nằm xuống bên bờ sông Sa Thầy.

    No image available

    Những lá thư của thương binh Nguyễn Thanh Giao trong những ngày chiến đấu ở miền Đông

    Ông dậy từ lúc nào, ngồi bên tôi nói: “Tôi với chú út đã cất công đi tìm dọc sông Sa Thầy mà không tìm thấy nơi chôn cất anh tôi. Đến giờ tôi vẫn ân hận vì chưa kịp mua được cho anh chiếc bút máy. Đây anh xem bức thư anh ấy viết” - Ông lật lật rất nhanh trong chồng thư, rút ra cho tôi lá thư viết bằng bút học sinh, mực đỏ. Anh ông viết: “Anh cần em một việc, đó là gửi cho anh chiếc bút máy cũ mà em đang dùng vừa là kỷ niệm, vừa đỡ tốn tiền của em. Hôm anh đi vì điều kiện kinh tế nên trong túi chỉ có 5 đồng. Mấy hôm hành quân tiêu trên đường đã hết…”.

    Chờ tôi đọc xong lá thư, ông kể về gia cảnh của ông.

    Quê ở xã Đông Cương, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nhà có ba anh em trai, ông là giáo viên, anh cả và chú út đã đi bộ đội, mặc dù trong diện miễn hoãn, nhưng ông giấu gia đình viết hàng chục đơn tình nguyện và ngày 15-7-1967, ông nhận được giấy gọi nhập ngũ. Cũng nhờ vào Nam chiến đấu mà ba anh em được gặp nhau trong chiến trường. Ngay sau hôm gặp ấy ông viết thư gửi về cho bố mẹ: “Chúng con vừa được gặp nhau bố mẹ ơi… Chúng con biết những năm qua, thầy mẹ và gia đình nhớ chúng con nhiều lắm. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước ta, đồng bào ta còn chịu nhiều gian khổ, trong đó có gia đình mình, nên cả ba chúng con vào chiến trường cũng là chuyện bình thường. Con nói thế không phải để động viên, an ủi bố mẹ mà ngay chính cho ba anh em chúng con”.

    Một trong lá thư ông viết mà chưa kịp gửi. Lá thư như một lời tự sự, lá thư như viết cho chính ông, thật cảm động. Ông kể, trong chuyến công tác ở miền Đông, đi cùng với chiến sĩ Nguyễn Văn Hùng về Củ Chi nắm địch, dọc đường rơi vào ổ phục kích. Hùng trúng đạn vào ngực, chới với gọi ông: “Anh chạy đi, em bắn chặn địch cho. Em hy sinh, anh nhớ về nhà báo tin cho thầy mẹ em nhé”. Nhìn Hùng hy sinh, ông nuốt nước mắt, lăn xuống lạch nước gần bờ sông Vàm Cỏ, đợi cho trời tối, quay lại tìm Hùng, nhưng chỉ sót lại những giọt máu đã sẫm lại trên nền cỏ úa vàng. Xác của Hùng đã bị địch kéo đi. Lần ấy ông ngẩn ngơ hàng tháng trời. Ông viết thư cho em trai: “Hùng đã hy sinh rồi Hải ạ. Ngực nó thủng toang vì đạn AR15 nhưng vẫn nghiến răng bắn chặn cho anh thoát khỏi vòng vây địch. Anh coi Hùng cũng như em. Chiếc đồng hồ Sen Cô nó gửi anh trước lúc đi công tác anh còn đang giữ đây. Chiếc đồng hồ vẫn quay đều theo thời gian, mà Hùng thì không còn trên thế gian này nữa”.

    “Chiếc đồng hồ của Hùng sau này tôi tìm đến gửi lại cho bố mẹ em”. Ông kể: “Bố Hùng không nói gì, mặt đanh lại, dăn deo, đôi mắt đục rỉ ra dòng nước màu máu. Tôi đến bàn thờ Hùng đốt nén nhang cắm vào bát hương lẩm bẩm: “Em sống khôn chết thiêng, phù hộ cho bố mẹ mạnh khỏe. Anh sẽ thay em đi lại chăm sóc ông bà”. Ngẩng lên nhìn tấm chân dung truyền thần tôi như thấy em nghe được điều tôi nói”.

    “Tôi bị thương. Đã tưởng chết, không ngờ được anh em đơn vị cho lên xe Honđa chở về bệnh viện tuyến sư đoàn, đến lúc khỏi là lúc giải phóng miền Nam”. Được đơn vị cho về thăm nhà, ông hớn hở mua tặng mẹ chiếc khăn vuông len, chiếc áo bông chần, tặng bố chiếc mũ lưỡi trai bằng dạ. Về đến cổng, ông hồi hộp lắm. Nhưng sao nhà vắng thế này? Nghe tiếng chân người, mẹ ông chạy ra liêu xiêu như một chiếc bóng. Ông ào lại, ôm chặt lấy người mẹ nhỏ thó trong chiếc áo nâu sồng có nhiều miếng vá. Mẹ mếu máo: “Con ơi bố mất cách đây 4 năm rồi. Nhận giấy báo tử của thằng Giá, ông ấy gục xuống như cây chuối đổ. Cứ thế, nằm một chỗ sau 3 tháng thì lặng lẽ ra đi…”.

    “Đám ma của bố - mẹ kể lại với tôi - chỉ có anh em họ mạc. Cả ba thằng con trai, không đứa nào có mặt. Mẹ phải để ba cây gậy xoan, ba chiếc mấn rơm và ba bộ áo xô sau quan tài bố. Chỉ có tiếng khóc của mẹ và cô em út mắc lại trong cổ họng không thành lời. Tôi không còn nước mắt để khóc. Sau lần nghỉ phép ấy, tôi được Nhà nước nuôi ở các trại điều dưỡng thương binh nặng”.

    Hơn 30 năm sống ở trại điều dưỡng, cũng có những thời gian sức khỏe khá lên, ông lại đạp xe về làng, đến nhà bạn đồng ngũ có ở khắp các huyện trong tỉnh Thanh Hóa; Rồi ông đi hỏi vợ cho chú Bình, thương binh ở Quảng Tân, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa; Cắt tóc, cạo râu, thay quân phục mới cho thương binh Bùi Hoàng Phố, khi Phố đột ngột mất vì vết thương tái phát. Ông còn dành thời gian sang dạy văn hóa cho các cháu ở trại trẻ mồ côi, sát vách trại điều dưỡng: “Những đứa trẻ dễ thương, thông minh, đa cảm, đẹp như thiên thần, nhưng sao bố, mẹ chúng nó lại nhẫn tâm bỏ chúng vào trại mồ côi” - Không còn giữ được bình tĩnh, ông thốt lên giọng căm phẫn.

    Thấy ông “văn hay, chữ tốt” mỗi năm, cứ độ xuân về Trung tâm lại giao cho ông ngồi viết câu đối Tết. Những lúc ấy, lòng ông thật thanh thản, nhưng cũng có lúc vết thương lòng lại vỡ ra. Ông không khóc nhưng mặt đẫm nước mắt. Ông đưa cho tôi xem 22 câu đối Tết mà ông đã nghĩ sẵn. Ông nói: “Phải chọn từng câu, từng chữ, vì in trên lịch tặng anh em, không hay người ta cười cho”.

    Trong đêm yên tĩnh, cầm những trang câu đối của ông tôi lấy giọng đọc to: “Ta tự hào bởi: Xuyên thiên niên kỷ là tình đồng đội. Càng vững tin vì: Theo suốt cuộc đời có nghĩa anh em”.

    Đọc xong tôi lặng đi, ôm lấy ông im lặng nghe tiếng gà gáy sáng.

    Bài, ảnh: VŨ ĐẠT
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...