Tín ngưỡng thờ Hùng Vương là đỉnh cao tâm thức dân tộc, và Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành lễ hội văn hóa lớn nhất cả nước. Ý nghĩa tâm linh trẩy hội về Đền Hùng ăn sâu vào nếp nghĩ và sinh hoạt trong đời sống tinh thần người Việt. Đây chính là cội nguồn thiêng liêng, nơi khơi dậy tinh thần đoàn kết và sức mạnh của cả dân tộc phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước...
![]() |
|
Lễ rước kiệu trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Ảnh: TTXVN
|
* Theo kế hoạch, hồ sơ trình UNESCO đề nghị công nhận “Tín ngưỡng và Lễ hội Hùng Vương” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại sẽ hoàn thành trước 31-8-2010.
Tín ngưỡng thờ Hùng Vương là đỉnh cao tâm thức dân tộc, và Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành lễ hội văn hóa lớn nhất cả nước. Ý nghĩa tâm linh trẩy hội về Đền Hùng ăn sâu vào nếp nghĩ và sinh hoạt trong đời sống tinh thần người Việt. Đây chính là cội nguồn thiêng liêng, nơi khơi dậy tinh thần đoàn kết và sức mạnh của cả dân tộc phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Hệ giá trị tinh thần và bản lĩnh văn hóa Việt
Trên thế giới, hiếm có nơi nào lại có được hình thức tín ngưỡng thờ Tổ độc đáo như ở Việt Nam, góp phần tạo nên hệ giá trị tinh thần và bản lĩnh văn hóa Việt Nam.
Sự thiêng liêng và đức tin là hai yếu tố cơ bản của tín ngưỡng. Nhưng sự thiêng liêng ở Đền Hùng không làm người ta sợ hãi như khi đến các nơi thờ cúng khác, mà đến với Đền Hùng như đến bên bàn thờ tổ tiên trong gia đình mình với ý nghĩa lớn lao gắn Nhà với Nước: Cha, mẹ trong gia đình và cha, mẹ dân tộc. Đạo thờ cha, mẹ chính là bản sắc văn hóa Việt . Người Việt thường có xu hướng tôn vinh con người - con người thật cũng như con người huyền thoại. Người ta đặt niềm tin và cầu mong những điều giản dị không chỉ cho mình mà cho cả cộng đồng dân tộc: Đất nước thanh bình, mưa thuận gió hòa, vạn sự như ý, sức khỏe dồi dào... Ước nguyện riêng của từng người cũng là ước nguyện chung của cả cộng đồng.
Các cuộc hành lễ của làng xã quanh khu vực Đền Hùng đã tạo nên sự xúc động tâm linh mạnh mẽ hướng về cội nguồn. Có khoảng 40 làng rước kiệu từ đình làng mình tới chầu, tất cả đều đặt ở chân núi để thi giải, kiệu nào nhất được rước lên Đền Thượng thay mặt cả đoàn kiệu đứng tế Tổ. Đây là một hoạt động tín ngưỡng rất tôn nghiêm và nô nức.
Đám rước được tổ chức hết sức công phu, gồm 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Kiệu được sơn son thiếp vàng, đục chạm tinh vi, thân là hình hai con rồng dài gần 4m do 16 người khiêng. Cỗ đi đầu, bày hương, hoa, đèn nến, trầu cau, bình nước và nậm rượu. Cỗ thứ hai, rước nhang án bài vị thánh có lọng che. Cỗ thứ ba rước đầy bánh chưng, thịt lợn. Đi trước nhất là viên quan dịch cầm loa báo cho nhân dân hai bên đường và khách bộ hành biết trước cỗ kiệu sắp tới để họ nghênh đón. Tiếp đến là phường chèo, vừa đi vừa hát gọi là phường chèo gióng đường, sau đó là trống nện theo nhịp. Dịch loa, phường chèo và chiêng trống có thể xem là một ê kíp tiền trạm. Ê kíp chính của đám rước gồm: Người vác lá cờ thần dẫn đầu, 8 người vác cờ đuôi nheo, 8 người vác bát bửu. Ông chủ tế mặc áo hoàng bào thụng kiểu nhà vua đi trước, các quan viên chia nhau đi trước và sau kiệu, kiệu nhang án có phường bát âm tấu nhạc đi hai bên. Trừ phường bát âm mặc thường phục cổ (quần trắng, áo the, khăn xếp), còn các quan viên rước kiệu đều ăn mặc theo lối quan văn võ trong triều.
Lễ hội truyền thống vùng đất Tổ Hùng Vương ngày nay vẫn mang nét chung của hội làng vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời nổi bật với những sắc thái văn hóa riêng vùng đất Phong Châu với các tục cổ đặc thù. Lễ hội truyền thống vùng đất Tổ còn được phân loại thành: Lễ hội tiền nông nghiệp (săn thú, bắt cá…), lễ hội nông nghiệp (cầu mùa, cầu mưa, các phong tục: Tục rước mạ, trò đúc tượng, khấn vía lúa, tục gọi gạo…), lễ hội thờ các anh hùng (tín ngưỡng thờ thành hoàng, anh hùng lịch sử, anh hùng văn hóa…).
Tiến tới được công nhận là di sản của nhân loại
Tín ngưỡng thờ Hùng Vương và Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành lễ hội văn hóa tâm linh lớn nhất trong toàn quốc. Với ý nghĩa cao đẹp đó, từ năm 2000, Bộ Chính trị đã quyết định những năm chẵn (5 năm một lần) Lễ hội Đền Hùng được tổ chức theo nghi thức Quốc giỗ.
Trong những ngày này, chúng ta đang tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương theo nghi lễ cấp Nhà nước và có nhiều mong muốn một danh hiệu của UNESCO với khu vực di sản này. Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định giao cho Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Phú Thọ nhanh chóng hoàn thành hồ sơ mang tên “Tín ngưỡng và Lễ hội Hùng Vương” đệ trình UNESCO.
Với sự kiện này, ông Phạm Sanh Châu - Vụ trưởng Vụ văn hóa đối ngoại và UNESCO (Bộ Ngoại giao) cho biết, thời gian qua, đã có nhiều hội thảo và đưa ra việc đề cử "Hát xoan" là di sản gắn liền với vùng đất Tổ, nhưng di sản này thuộc vào danh mục: Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp. Hơn nữa, "Hát xoan" vẫn chưa lột tả được tầm vóc, quy mô của sự kiện, truyền thống thờ cúng bậc Quốc Tổ Hùng Vương. Trong cuộc hội thảo gần đây nhất, khoảng 6 tháng trước, đã thống nhất lễ hội tín ngưỡng của Đền Hùng rất xứng đáng làm hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại mang tính đại diện. Bởi trên thế giới chưa có một đất nước nào lập hồ sơ cũng như có tín ngưỡng thờ Tổ như Việt .
Khẳng định về giá trị của tín ngưỡng và Lễ hội Đền Hùng, GS Ngô Đức Thịnh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng Việt Nam cho biết: “Khi Chính phủ đặt vấn đề đưa lễ Giỗ Tổ các Vua Hùng thành ngày Quốc lễ, tôi có nói đừng coi các Vua Hùng là một sự kiện lịch sử thuần túy, mà là cao hơn thế, là biểu tượng của dân tộc. Thời các Vua Hùng là một thời kỳ huyền sử mà bất cứ nước nào cũng có. Bản thân các nhân vật trong thời kỳ này cũng mang tính "nửa lịch sử, nửa huyền thoại". Những nhà sử học thời trước như: Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn... cũng không chép thời kỳ này vào chính sử mà xếp vào phần "ngoại kỷ". Đó là một thái độ nghiêm túc khoa học. Nhưng tất cả những điều đó không phải vấn đề, quan trọng là Vua Hùng đã trở thành một biểu tượng, mà biểu tượng thì còn cao hơn cả sự kiện, mang tính tâm linh thống nhất của quốc gia. Dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam rất cần một biểu tượng này làm chỗ dựa tâm linh để cố kết và thống nhất dân tộc. Tín ngưỡng Vua Hùng chính là sự phóng đại của việc thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng tổ tiên và mang đậm tính huyền thoại. Tất nhiên huyền thoại nào cũng phải dựa trên cốt lõi lịch sử, mà ở đây là nền văn hóa Đông Sơn. Quan niệm của người Việt Nam là gia đình, dòng họ của mình có tổ tiên. Và trong tâm thức của người Việt, đất nước này cũng là một gia đình lớn. Có cha Lạc Long Quân, có mẹ Âu Cơ”.
Đơn vị thực hiện trực tiếp lập hồ sơ “Tín ngưỡng và Lễ hội Hùng Vương” là Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam và Khu di tích lịch sử Đền Hùng. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Tiến Khôi - Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng cho biết, hiện ở Phú Thọ và một số địa phương khác có hơn 600 nơi thờ các Vua Hùng, gia quyến và tướng lĩnh, nhưng tập trung nhất là khu di tích Núi Hùng (hay núi Nghĩa Lĩnh) thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương hiện có bốn đền thờ (Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng và Đền Giếng), một chùa (Thiên Quang Thiền Tự) và Lăng Vua Hùng. Đây là điều rất thuận tiện trong việc nghiên cứu, điều tra và khảo sát để lập hồ sơ. Ngoài khu vực Đền Hùng, thì tín ngưỡng thờ cúng gắn với lễ hội của 3 địa danh xung quanh Đền Hùng là Việt Trì, Phù Ninh và Lâm Thao cũng sẽ là các khu vực bổ trợ tư liệu cho hồ sơ. Ông Khôi cũng khẳng định, dịp tổ chức Quốc lễ năm nay sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu tiến hành quay hình, ghi âm các nghi thức của lễ hội cũng như sự thành kính của hàng triệu người dân nước Việt trở về với Đất Tổ trong ngày lễ, góp nên những hình ảnh mới, sinh động.
Đề cập tới lộ trình của việc lập hồ sơ, ông Phạm Sanh Châu cho biết, Ủy ban UNESCO của Việt Nam và UNESCO Hà Nội sẽ đồng hành cùng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Phú Thọ để hoàn tất hồ sơ trong thời gian sớm nhất. Theo kế hoạch, bộ hồ sơ sẽ phải trình UNESCO trước ngày 31-8-2010. Nếu thuận lợi, người dân sẽ được đón nhận tin vui của hồ sơ “Tín ngưỡng và Lễ hội Đền Hùng” vào năm sau - năm 2011 cùng với hồ sơ "Hát xoan". Ông Phạm Sanh Châu cũng cho biết, trong mấy năm vừa qua, chúng ta nỗ lực rất nhiều trong việc lập hồ sơ trình UNESCO và đã nắm được “luật chơi”. Trong thời gian tới, cần phải kết hợp tranh thủ làm hồ sơ có chất lượng, tranh thủ nộp đúng hạn và tranh thủ vận động để đạt tới thành công. Tuy nhiên, quá trình xây dựng một bộ hồ sơ khá lâu, nên rất cần sự đồng thuận của xã hội.
Ngày Giỗ Tổ đang đến gần, người dân Việt Nam ta ở mọi miền đất nước và ở xa Tổ quốc, dù đến hay không đến được, đều hướng về Đền Hùng, hướng về cội nguồn dân tộc với lòng biết ơn công lao các Vua Hùng và với niềm tin vào sự trường tồn và sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Vương Hà
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận