Mặc dù không phải là anh ruột tôi, nhưng trong số những đứa em, tôi là đứa được anh quý nhất. Kỷ niệm về anh đã mấy chục năm qua vẫn in đậm trong ký ức của tôi...
![]() |
|
Liệt sĩ Nguyễn Văn Liên. |
Nhà bác tôi cũng như mấy chú và cả nhà tôi nữa, nghèo lắm. Bác tôi đông các anh chị nên cảnh chia cơm, chung áo quần là chuyện thường ngày. Anh hay cởi trần, chỉ đánh chiếc quần đùi khi nấu cơm, khi làm việc nhà, chỉ khi ra ngoài anh mới ăn mặc nghiêm chỉnh. Da anh đen đúa vì cháy nắng. Tôi thường bế em sang chỗ các anh chơi đánh đáo, chơi cờ hoặc chầu rìa nghe anh tôi thổi sáo. Tôi lắng nghe điệu sáo trúc “Con cò… cò… bay lả, lả bay la…”, hay điệu sáo môi “Giải phóng Điện Biên…” của anh mà phục lắm. Thỉnh thoảng, bắt gặp ánh mắt thán phục đó của tôi, anh hỏi: “Mày nghe anh thổi có hay không?”. Thấy tôi gật đầu, anh tôi sẵn lòng phục vụ: “Thế thì nghe tiếp bài này nữa nhé!”.
Năm anh tôi học hết lớp bảy, cả nước sục sôi khí thế lên đường tòng quân đánh Mỹ. Anh và các anh bạn cùng trang lứa trong xóm tôi bàn nhau về các mẹo để qua mặt “mấy ông cân đo”. Tôi nghe lỏm chuyện của các anh nên biết được. Anh thì bảo ăn khoai lang nướng khi đi khám tuyển sẽ nặng cân; anh thì bảo phải bỏ thêm ít đá vào túi quần cho nặng; anh thì bảo cứ uống thật nhiều nước trước khi cân là không ai phát hiện được… Các anh thực hiện ra sao tôi không rõ, nhưng kết quả thì ai cũng rõ: đợt khám tuyển nghĩa vụ quân sự ấy, anh tôi đạt loại B2, nghĩa là bị rớt. Không chịu ở lại, anh cố nằn nì thế nào mà ban xã đội cho anh đi thanh niên xung phong đợt đó. Tôi nhớ đó là dịp giáp Tết Mậu Thân.
Năm ấy, ăn Tết xong, anh tôi lên đường nhập ngũ.
Chiều hôm trước ngày anh Liên đi, mẹ tôi làm mâm cơm, mời: “Cháu ăn với chú thím bữa cơm rau”.
Cho đến giờ tôi chỉ nhớ đó là bữa cơm thời chiến, đạm bạc nhưng ấm áp nghĩa tình. Ăn cơm xong, ngồi uống nước, anh có nói với bố mẹ tôi: “Cháu đi phen này, xin hứa với chú thím: chết xanh cỏ, sống đỏ ngực…”. Anh vừa nói vừa cười, phô hàm răng nhỏ đều trắng như những hạt ngô non. Nụ cười thật vô tư và hồn nhiên, trong sáng. Có lẽ vì thế mà mẹ tôi miệng thì cười theo anh nhưng mắt đã ầng ậng nước quay đi. Còn tôi-cô bé mười tuổi ngây thơ, cứ ngước cặp mắt đen tròn nhìn anh. Tôi cố nuốt từng lời và như để ghi nhớ mãi gương mặt thân thương ấy của anh tôi. Sau này, khi đã đủ lớn khôn, được học hành, tôi hiểu đó là lời hứa danh dự-lời thề của anh tôi ngày ra trận.
Thỉnh thoảng, bác tôi, bố mẹ tôi, chú tôi có nhận được thư anh. Biết tin đơn vị anh đã vào sâu nơi tuyến lửa khi mỗi lá thư ngày càng thưa vắng. Rồi bác tôi nhận được tin anh đã hy sinh trong một trận đánh ngoài mặt trận. Cả gia đình tôi không ai dám tin, không muốn tin...
Tôi còn nhớ như in cái buổi chiều đau thương tang tóc ấy. Làng xóm vừa gặt chiêm. Người ta tạm dẹp rạ rơm, thóc lúa ở sân kho của đội để chuẩn bị lễ đài tưởng niệm liệt sĩ. Tổ chức lễ truy điệu cho các liệt sĩ, trong đó có anh Liên của tôi. Các bà mẹ khóc con, có người vợ khóc chồng, những đứa em khóc anh, cả làng khóc thương tiếc các anh… Tai tôi lùng bùng tiếng được, tiếng mất: Ngày 7 tháng 8 năm 1970… đồng chí Nguyễn Văn Liên… anh dũng hy sinh… liệt sĩ. Đó là những tiếng khắc sâu trong tâm hồn tôi. Mãi mãi tôi chẳng thể nào quên. Anh ơi, thật rồi sao! Có lẽ nào như thế được?… Gia đình tôi và các gia đình cùng cảnh ngộ đón rước hương hồn các anh về bàn thờ tiên tổ…
Sau này tôi càng hiểu những người thuộc thế hệ Nguyễn Văn Thạc như anh tôi ngày đó. Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, các anh đã sống, hành động như thế là tất yếu: sẵn sàng ra đi, sẵn sàng dâng hiến tuổi thanh xuân, sẵn sàng xả thân hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Các anh đã bước tiếp con đường của cha ông thuở trước. Tôi tự hào về anh. Chỉ thương anh, cho tới khi hy sinh, chưa một lời hẹn ước, chưa một lá thư tình. Anh tôi còn quá trẻ, rất vô tư trong sáng! Mọi việc đối với anh cứ nhẹ tựa lông hồng và thanh thản như nụ cười tươi rói trên tấm hình anh "mãi mãi tuổi hai mươi".
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận