Ý đồ biến Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ đã hình thành khá sớm. Từ năm 1940 đến nửa đầu tháng 8-1945, Mỹ đã không ít lần tìm cách gạt chân Pháp...
![]() |
|
Máy bay vận tải C-119 Pac-ket có nhiệm vụ chở quân lính và tiếp tế hậu cần cho Điện Biên Phủ do các phi công Pháp và Mỹ lái. Ảnh tư liệu |
Ý đồ biến Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ đã hình thành khá sớm. Từ năm 1940 đến nửa đầu tháng 8-1945, Mỹ đã không ít lần tìm cách gạt chân Pháp. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, để rảnh tay đối phó với phong trào cách mạng thế giới và ảnh hưởng to lớn của Liên Xô tại châu Âu, từ chỗ ngăn chặn, Mỹ quay sang ủng hộ, thỏa hiệp để Pháp quay lại Đông Dương, thực chất là lợi dụng Pháp kiềm tỏa làn sóng cách mạng đang dâng cao tại đây. Cuối tháng 8-1945, Tổng thống Mỹ, H.Tơ-ru-man chính thức thừa nhận bằng văn bản chủ quyền của Pháp tại Đông Dương. Thế nhưng sau sự kiện 23-9-1945, tại Sài Gòn (Anh giúp Pháp gây hấn tái chiếm Nam Bộ), Mỹ thấy rằng để xảy ra xung đột lúc này không những sẽ phá vỡ thỏa thuận đạt được giữa các cường quốc về trật tự thế giới mới sau chiến tranh, mà còn làm gia tăng nguy cơ đẩy nhanh các cuộc “cách mạng đỏ”, khiến mọi việc vượt tầm kiểm soát. Vì thế Mỹ đã dùng ảnh hưởng của mình - một chủ nợ sau chiến tranh - để dàn xếp những cuộc xung đột, tất nhiên là ở thế có lợi cho Mỹ, và bất lợi cho cách mạng Đông Dương. Thông qua chiêu bài kêu gọi Pháp trao trả độc lập cho các thuộc địa, trong đó có Việt Nam (theo cách hiểu của Mỹ phải là Việt Nam không cộng sản), Mỹ đã có được những sự ủng hộ nhất định. Đây thực sự là một chính sách nước đôi, đầy xảo quyệt của một đế quốc thực dụng, khi vừa phản đối chủ nghĩa thực dân của Pháp, nhưng chống lại Việt Nam độc lập dưới sự lãnh đạo của Việt Minh.
Bước vào những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ 20, khi chiến tranh Pháp - Việt ngày một lan rộng, một giải pháp chính trị ôn hòa vẫn là sự lựa chọn số một của Mỹ, trong đó chủ yếu vẫn là kêu gọi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Bởi một khi Mỹ còn phải vướng chân trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc, cùng việc đối phó với Liên Xô, thì dùng con bài chính trị để tránh xung đột vẫn là một cách tốt nhất. Mỹ và Pháp ít nhất cũng đã có được sự đồng thuận khi chọn cựu hoàng Bảo Đại để đặt lên ghế đối trọng với Chính phủ của Hồ Chí Minh, vốn đang có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một sự “thử nghiệm”. Những thất bại của Pháp trong những năm 1947 đến 1949 đã thúc đẩy Mỹ có những hành động cụ thể hơn đối với cuộc chiến Đông Dương.
Từ cuối năm 1949, đầu 1950, tình hình quốc tế có nhiều biến chuyển quan trọng, đã tác động đến chính sách của Mỹ tại Đông Dương. Đầu năm 1950, việc hàng loạt nước XHCN và các nước khác lần lượt công nhận Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy cuộc chiến của nhân dân Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới. Tình hình đó buộc Mỹ phải đánh giá lại chiến lược toàn cầu của mình. Ngày 30-12-1949, Tổng thống Mỹ H.Tơ-ru-man thông qua một báo cáo của Hội đồng An ninh quốc gia về châu Á, thể hiện sự quyết tâm của Mỹ trong việc ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, cũng như sự quan tâm đặc biệt tới Đông Dương. Tháng 4-1950, Tơ-ru-man đã thông qua bản ghi nhớ quan trọng về Đông Dương dưới mã số NSC 64, tuyên bố Mỹ viện trợ cho Đông Dương là tối cần thiết vì sự có mặt của Trung Quốc ở biên giới Đông Dương và vì người Pháp không có khả năng địch lại với lực lượng Hồ Chí Minh. Sau khi Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác công nhận nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, ngay lập tức Mỹ và các nước đồng minh cũng công nhận chính phủ bù nhìn của Bảo Đại.
![]() |
|
Chiến hạm Mỹ USS Bayfield đưa người di tản từ Bắc vào Nam, tháng 11-1953. Ảnh tư liệu |
Tháng 5-1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp đã cử tướng H.Na-va sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, thay cho tướng Xa-lăng. Sau đó, kế hoạch Na-va với hy vọng sau 18 tháng sẽ giành được thắng lợi về quân sự làm điều kiện cho một giải pháp chính trị đã được Mỹ thông qua, kèm theo khoản viện trợ lên đến 700 triệu USD. Sự xuất hiện của cứ điểm Điện Biên Phủ được cả Mỹ và Pháp đánh giá như một “pháo đài bất khả xâm phạm”, là một “con nhím khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc”, sẵn sàng nghiền nát bộ đội chủ lực của Việt Minh.
Trên thực tế chiến trường, giai đoạn đầu (13-3 đến 17-3-1954) với sức mạnh “không tưởng” của Việt Minh, toàn bộ phân khu Bắc đã bị đập nát. Với tư cách là nước đứng đầu “thế giới tự do”, không thể đứng nhìn sự thất bại của các lực lượng viễn chinh, Mỹ đã tính đến việc dùng pháo đài bay B29 và máy bay trên tàu sân bay ném bom ồ ạt khu vực xung quanh Điện Biên Phủ, thậm chí tính cả chuyện dùng bom nguyên tử chiến thuật, theo kế hoạch mật Vantoure. Thế nhưng xuất phát từ những toan tính riêng của các đồng minh, việc can thiệp quân sự ồ ạt vào Đông Dương và kế hoạch Vantoure đã không trở thành hiện thực. Điều đó đã dẫn đến tấn thảm kịch của nước Pháp vào ngày 7-5-1954 tại Điện Biên Phủ.
Rõ ràng không trực tiếp can thiệp quân sự vào Đông Dương ở thời điểm tàn canh, thế nhưng Mỹ không hề từ bỏ mục tiêu xâm lược, nô dịch Đông Dương. Trái lại, đây chính là thời điểm bắt đầu cho một âm mưu mới - âm mưu phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ, trực tiếp nhảy vào thế chân Pháp, đẩy khát vọng hòa bình, thống nhất của đất nước Việt Nam phải kéo dài tới 21 năm sau (1975).
NGUYỄN TIẾN ĐÔNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận