Thứ Sáu, 11/06/2010, 09:15

    Phần thưởng của Bác Hồ

    Sáng 19-5-2010, ông Nguyễn Đình Hồng, 88 tuổi, 59 năm tuổi Đảng, cán bộ nghỉ hưu, hội viên Hội CCB khu 16, xã Sơn Vi (huyện Lâm Thao, Phú Thọ), mời tôi tới nhà. Gặp tôi, ông niềm nở chào và chậm rãi nói...

    Sáng 19-5-2010, ông Nguyễn Đình Hồng, 88 tuổi, 59 năm tuổi Đảng, cán bộ nghỉ hưu, hội viên Hội CCB khu 16, xã Sơn Vi (huyện Lâm Thao, Phú Thọ), mời tôi tới nhà. Gặp tôi, ông niềm nở chào và chậm rãi nói:

    - Hôm nay, nhân dân ta tổ chức kỷ niệm trọng thể 120 năm Ngày sinh của Bác Hồ kính yêu. Tôi đã thắp hương tưởng nhớ công ơn to lớn của Bác và vô cùng xúc động nhớ lại kỷ niệm được nhận phần thưởng của Bác Hồ, mà tự tay Người trao tặng cho tôi tại chiến khu Việt Bắc. Vì thế, hôm nay tôi muốn được kể lại câu chuyện này cho ông nghe.

    Ông Hồng kể:

    …Tôi may mắn có thời gian 6 năm 9 tháng 13 ngày (2-2-1947/15-11-1953) là chiến sĩ của Trung đội độc lập - đơn vị Vệ quốc quân làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ tại Chiến khu Việt Bắc. Hằng ngày, dù Bác Hồ bận nhiều công việc, nhưng Người vẫn rất quan tâm đến cán bộ, chiến sĩ đơn vị tôi. Bác nhớ rõ tên, tuổi và hoàn cảnh gia đình của mỗi chúng tôi. Đặc biệt, Bác động viên, khen thưởng rất kịp thời mỗi khi chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    No image available
    Bác Hồ làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch năm 1957. Ảnh tư liệu.

    Chiều 1-3-1949, tôi và 11 chiến sĩ của đơn vị được cử đi cùng đồng chí Vũ Kỳ, hành quân về xuôi nhận lương thực cho cơ quan. Chúng tôi ra bến Bình Ca (Tuyên Quang) mượn được 2 chiếc thuyền của đồng bào. Suốt đêm hôm đó, chúng tôi chèo thuyền xuôi sông Lô, mờ sáng hôm sau về đến Bến Then (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) nhận 4 tấn gạo và xếp lên hai chiếc thuyền, đợi tối đến mới kéo thuyền ngược Sông Lô về căn cứ. Vì nếu đi ban ngày chúng tôi sợ máy bay địch phát hiện, oanh tạc.

    Sông Lô mùa cạn, nước chảy xiết, đáy sông nhô lên nhiều đá ngầm, hai bên bờ sông nhiều lau sậy và cây cối rậm rạp. Việc kéo thuyền đi ban đêm phải dùng đuốc để soi, nên gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn động viên nhau ra sức kéo thuyền đi nhanh, đảm bảo an toàn. Rạng sáng 3-3-1949, chúng tôi kéo thuyền chuẩn bị cập bếp Tràng São (Sơn Dương, Tuyên Quang), thì không may chiếc thuyền có đồng chí Vũ Kỳ và tôi đi cùng bị mắc cạn. Giữa lúc chúng tôi đang loay hoay tìm cách đẩy thuyền, thì trên trời xuất hiện hai chiếc máy bay của giặc Pháp. Phát hiện ra chúng tôi, chúng bắn như vãi đạn làm đáy chiếc thuyền bị thủng 5 lỗ, nước sông chảy vào xối xả. Nguy cơ mất trắng hai tấn gạo đang hiện hữu. May mà hai chiếc máy bay của giặc Pháp xả đạn một hồi rồi bay đi, nên anh em chúng tôi đều an toàn.

    Mọi người đều tỏ ra lúng túng chưa biết xử lý thế nào, tôi liền nghĩ ra cách: Cởi chiếc áo đang mặc, xé vụn ra thành nhiều mảnh nhỏ rồi lặn sâu xuống phía dưới đáy thuyền lần tìm từng lỗ thủng nút lại.  Thấy tôi làm vậy, một số chiến sĩ cũng lao xuống nước, hỗ trợ và tình huống được giải quyết khá nhanh. Đồng chí Vũ Kỳ phấn khởi động viên anh em múc hết nước trong thuyền, rồi kéo vào bến ngụy trang kín và nghỉ ngơi. Chiều tối, 5-3-1949, chúng tôi đưa được hai chiếc thuyền chở đầy gạo về bến Bình Ca an toàn. Mọi người đều rất vui mừng và hy vọng khẩu phần lương thực từ nay sẽ được cải thiện.

    Buổi tối hôm đó, đơn vị tôi đang kiểm điểm đợt công tác, thì Bác Hồ đến thăm. Bác khen chúng tôi đã vượt qua khó khăn, mưu trí, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Rồi Bác tươi cười nói: “Số lương thực các chú vừa nhận về là để ưu tiên cấp cho các đơn vị bộ đội đang chiến đấu ngoài mặt trận, còn Bác và các chú ở hậu phương, có điều kiện tăng gia sản xuất tự túc được một phần lương thực và thực phẩm, đỡ gánh nặng cho Chính phủ, góp phần cho công cuộc kháng chiến mau thắng lợi. Bác nói thế, các chú có nhất trí không?”. Tất cả chúng tôi như chợt hiểu ra, đồng thanh đáp: “Thưa Bác! Chúng cháu hoàn toàn nhất trí ạ!”. Bác gật đầu, nhìn khắp lượt chúng tôi và hỏi: “Giặc Pháp có đội quân viễn chinh hùng mạnh, lại được trang bị đầy đủ các loại vũ khí hiện đại và tối tân… Theo các chú, chúng ta đánh thắng giặc Pháp bằng cách nào?”

    Anh em chúng tôi tranh nhau trả lời Bác, bằng những điều đã thuộc lòng: “Thưa Bác! Chúng ta phải tiến hành toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi ạ!”. “Thưa Bác! Chúng ta phải dùng lối đánh du kích ạ!”. “Thưa Bác! Chúng ta phải quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh ạ!”. Bác thấy tôi vẫn ngồi im lặng, liền hỏi: “Chú Hồng trả lời Bác đi chứ!”. Tôi lễ phép đứng dậy, nghiêm trang báo cáo với Bác: “Thưa Bác! Muốn đánh thắng được giặc Pháp chúng ta phải dùng mưu trí ạ!”. Bác gật đầu, mỉm cười, vẫy tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống và Người khen ngợi: “Chú Hồng trả lời rất đúng! Ông cha ta từ xưa vẫn dạy: “Phàm bất cứ làm việc gì cũng phải dùng đến mưu mẹo”. Ví như trong chuyến các chú đi vận chuyển lương thực vừa rồi, Bác được nghe báo cáo: Chú Hồng có mưu mẹo cứu thuyền khỏi chìm xuống sông, như thế là tốt, đơn vị phải học tập. Tiện đây chú Hồng cho Bác hỏi: "Ai đã dạy chú biết mưu mẹo ấy?”.

    Tôi phấn khởi đứng dậy, thật thà thưa với Bác: “Thưa Bác! Gia đình cháu là nông dân rất nghèo khổ. Trước khi đi bộ đội, cháu làm nghề kiếm cá trên sông nước. Hằng ngày phải bơi chiếc thuyền nan cũ có nhiều chỗ thủng, nên cháu có chút ít kinh nghiệm vá thuyền thủng: Hoặc là bằng đất sét, hoặc là bằng giẻ rách ạ!”.

    Buổi sinh hoạt của đơn vị kết thúc, Bác nói đồng chí Mạnh Đàn, Trung đội trưởng và đồng chí Nguyễn Trị, Chính trị viên, cùng tôi lên gặp Bác. Bác giao nhiệm vụ cho các cán bộ trung đội về cử ngay một số chiến sĩ đi “ngoại giao kinh tế” (nguyên văn câu của Bác dùng). Tức là đi xuống các thôn bản, các địa phương tại căn cứ Việt Bắc để tuyên truyền, vận động đồng bào ủng hộ lương thực và thực phẩm cho kháng chiến. Rồi Bác lấy ra một sấp vải ka-ki màu vàng, Bác nhìn tôi trìu mến và nói: “Chú Hồng đã lập thành tích tốt trong đợt vận chuyển lương thực vừa qua, Bác biểu dương khen ngợi và trao tặng chú phần thưởng 4m vải ka-ki này để chú may bộ quần áo mới, mặc vào, đi tham gia nhiệm vụ “ngoại giao kinh tế” với đơn vị. Bác chúc các chú giành nhiều thắng lợi”.

    Tôi thực sự bất ngờ và cảm động, vì việc hoàn thành nhiệm vụ bình thường của một chiến sĩ như tôi, lại được vị Chủ tịch nước hiểu rõ, quan tâm, động viên, khen ngợi, đánh giá cao thành tích và trao tặng phần thưởng vô cùng quý giá, ý nghĩa này. Chẳng thể kìm nén được nỗi xúc động, nước mắt tôi cứ chảy tràn trên khuôn mặt...

    Tôi mặc bộ quân phục bằng vải ka-ki của Bác tặng suốt một thời gian đi tuyên truyền, vận động đồng bào. Tôi luôn cảm nhận được hơi ấm tình thương bao la của Bác truyền cho, tạo thêm sức mạnh niềm tin. Quả thực, chuyến đi công tác này, tôi đã gặp rất nhiều thuận lợi. Riêng tôi đã vận động đồng bào ủng hộ được 27 nồi thóc (hơn 600kg), 11 nồi ngô hạt (hơn 300kg), 3 mẫu bí đỏ, 1 đồi sắn lưu niên 5 năm, 5 con lợn thịt (gần 250kg), 100 con gà, vịt và 1.000 quả trứng gia cầm.

    Ngày 15-11-1953, tôi chẳng may bị thương vì mảnh bom máy bay giặc Pháp. Do sức khỏe yếu, tôi được phục viên, rồi sau đó đi thoát ly làm cán bộ đến ngày về hưu. Nay, dù tuổi cao, sức yếu, nhưng dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào thì những điều Bác dạy, những kỷ niệm về Bác đều trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc tôi phấn đấu vươn lên...

    BÙI NGỌC QUẾ

    phucthang

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...