Các thế hệ cựu tù binh ở Phú Quốc vẫn thường kể cho nhau nghe về tấm gương hy sinh kiên cường, bất khuất của liệt sĩ Nguyễn Đình Xô tại nhà tù Phú Quốc ngày 12-4-1969. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc những hồi ức bi tráng về “Nguyễn Đình Xô gang thép” qua hồi ký của ông Vũ Văn Kim, người bạn tù của liệt sĩ Nguyễn Đình Xô...
Các thế hệ cựu tù binh ở Phú Quốc vẫn thường kể cho nhau nghe về tấm gương hy sinh kiên cường, bất khuất của liệt sĩ Nguyễn Đình Xô tại nhà tù Phú Quốc ngày 12-4-1969. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc những hồi ức bi tráng về “Nguyễn Đình Xô gang thép” qua hồi ký của ông Vũ Văn Kim, người bạn tù của liệt sĩ Nguyễn Đình Xô.
Nhà tù Phú Quốc thời chống Mỹ là địa ngục trần gian sau nhà tù Côn Đảo. Với hơn 4 vạn tù binh, sau 6 năm tồn tại, 1/10 chiến sĩ yêu nước của ta đã bị kẻ thù sát hại bằng đủ mọi hình thức dã man, tàn bạo. Tôi bị thương, không may bị địch bắt và đày ra đảo ngày 15-10-1967, lại trải qua nhiều nhà tù: Plây-cu, Cần Thơ, Phú Quốc, Chí Hòa, Côn Đảo, Biên Hòa… nên đã chứng kiến và vĩnh biệt biết bao đồng đội. Tất cả đều đã nêu cao tấm gương về lòng trung kiên bất khuất. Là đồng hương, cùng hoạt động trong tổ chức của nhà lao, tôi không bao giờ quên những giờ phút đau thương nhưng vô cùng oanh liệt của Nguyễn Đình Xô, sinh năm 1946, quê Hộ Vệ, Lạc Vệ, Tiên Du, Hà Bắc (nay là Bắc Ninh).
![]() |
| Liệt sĩ Nguyễn Đình Xô. |
Theo ông Tăng, người cùng quê, cùng nhập ngũ ngày 13-9-1965 ở đơn vị C6 -D5 - E88 - F308, đi B ngày 31-12-1965 và cũng bị địch bắt kể lại: Trong một trận chiến đấu ở Đức Vinh - Gia Lai tháng 8-1966, Xô bị thương và bị địch bắt. Mặc dù bị địch tra tấn rất dã man, nhưng bọn chúng vẫn không khai thác được gì nên đưa Xô vào trại giam vùng III chiến thuật (trại giam Biên Hòa). Tại đây Xô đã tìm hiểu, móc nối sinh hoạt, rồi được anh em tín nhiệm, tổ chức tin tưởng giao làm Phó bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản. Khi mới bị đày ra Phú Quốc ở trại A1, anh cùng tập thể tổ chức diệt kẻ nợ máu nên đã bị địch để ý theo dõi. Mặc dù vậy anh vẫn tham gia nhiều cuộc đấu tranh của tập thể đòi dân sinh, dân chủ, chống lao dịch, chống đàn áp, đánh đập tù nhân. Thực hiện chủ chương của Đảng ủy nhà lao, nhiều lần Xô trực tiếp tố cáo tội ác dã man của chế độ nhà tù Mỹ-ngụy với phái đoàn Chữ thập đỏ quốc tế khi họ ra thăm đảo. Vì vậy, Xô cùng số ít anh em trong tổ chức đã bị bọn cai ngục ghi tên vào sổ đen theo dõi, tìm cách trả thù.
Tháng 3-1969, sau cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại chế độ độc ác của nhà tù, đòi yêu sách chính đáng của tù binh như Quy chế Giơ-ne-vơ năm 1949, ngày 16-3-1969, địch vô cớ bắt Xô cùng hai anh nữa đưa ra phòng điều hành của khu III tra tấn dã man nhằm tìm ra tổ chức bí mật của ta. Tên Hớn, giám thị trưởng trại A3; tên trung sĩ Bảnh, giám thị viên và một vài quân cảnh trực tiếp tra tấn các anh bằng hình thức cực kỳ dã man với nhiều trò quái đản. Chúng đã không lấy được một lời khai nào từ các anh. Thời gian sau đó có phái đoàn Hồng thập tự ra đảo, chúng tôi đã thẳng thắn tố cáo trực tiếp tới phái đoàn về hành động tra tấn cực kỳ dã man đó. Cả phái đoàn đã sửng sốt ngạc nhiên trước hành động bất lương và hứa sẽ can thiệp và lên án ngay.
Thời gian trôi đi không một phút bình yên, cả đảo tù ngày đêm quằn quại bởi đói rách, đòn roi súng đạn của quân thù. Vết thương tra tấn chưa lành thì ngày 12-4-1969, khoảng 9 giờ sáng ở trại B5, một tốp 5, 6 tên quân cảnh áo giáp, dùi cui, lưỡi lê; đi một chiếc Zép kiểu nhà binh mui trần, giữa lòng xe đặt khẩu đại liên sẵn sàng nhả đạn. Mọi người nhốn nháo sửng sốt chờ đón tin chẳng lành. Đúng vậy, danh sách 12 tù nhân với đủ họ tên, số tù, số phòng, quê quán bị phòng nhì đòi phải có mặt ngay tại phòng điều hành. Xô cũng có tên trong danh sách. Tôi vội đi tìm anh để cảnh báo, nhưng Xô cười bảo: “Tôi biết rồi”. Nghiêm nét mặt, Xô nói khẽ: “Tôi đi lần này chắc là đi hẳn! Về phần tổ chức, tôi đã trao đổi với đồng chí phó bí thư chi đoàn, từ nay sẽ là bí thư thay tôi. Anh cần liên hệ, trao đổi với đồng chí ấy. Tôi để lại cho đồng chí ấy cái áo lành hơn để mặc, giữ gìn sức khỏe còn tiếp tục đấu tranh. Còn về anh, nếu còn sống trở về thì nhắn giùm quê hương Lạc Vệ - Tiên Sơn và gia đình tôi rằng: Đình Xô này quyết giữ trọn lời hứa trước lúc lên đường đi chiến đấu. À, còn với Lư, người bạn gái quê nhà mà tôi đã có lời thề hẹn ngày chiến thắng, anh nói hộ với cô ấy: Thôi đành lỗi hẹn, mong cô ấy hạnh phúc! Tất cả chỉ vì đất nước có giặc!”.
Bẵng đi hai ngày, trưa 14-4-1969, một chiếc xe GMC đỗ sát cổng trại B5, trên xe một tốp quân cảnh với súng ống lưỡi lê, dùi cui và một cỗ quan tài gỗ mộc. Đại diện tù binh được giám thị báo lấy 8 người đi chôn người chết. Cả trại xôn xao bàn tán: “Ai chết? Chết ở đâu?”… Riêng tôi thì đoán là Xô đã mất. Tôi bí mật xin với đại diện tù binh cho một người Hà Bắc đi để xem hư thực ra sao. Và Thiều, một tù bình quê ở Tiên Sơn được tin tưởng cử đi, bởi anh cùng nhập ngũ và quan trọng nhất là trong sinh hoạt thường ngày, Thiều-Xô thường ăn chung, ngủ chung, mặc cũng chung. Vì đoán là Xô nên tôi đã chuẩn bị sẵn một lọ thủy tinh nhỏ, ghi tên Xô Hà Bắc và ngày hy sinh (tạm đoán là 12-4-1969) cho vào lọ, gắn nhựa đậy nút cẩn thận. Tôi dặn Thiều: “Nếu phải Xô thì bí mật cho lọ vào trong miệng, ấn sâu vào cổ họng để tìm kiếm sau này”.
![]() |
| Đồng đội thắp hương trên mộ liệt sĩ Nguyễn Đình Xô. |
Hai giờ sau, 8 người về vẻ mặt đều buồn, anh em tù tụ tập hỏi thăm người bị sát hại là ai? Tôi cũng hỏi, Thiều trả lời: “Chắc không phải Xô”. Tại sao? Thiều nói: “Lúc đến nhà xác bệnh viện Phú Quốc, do yêu cầu của anh em, quân cảnh đồng ý để mọi người được thắp hương, đứng mặc niệm đồng đội. Sau đó, mọi người lật bông xô để niệm xác vào quan tài. Một xác chết đã bắt đầu trương, thối. Anh em cố ý làm chầm chậm để xác định danh tính. Theo như Thiều thì chiều cao tương đương Xô, nhưng không thể nhận diện được. Trời nóng, xác người chết không rõ bị tra tấn kiểu gì đã trương, toàn bộ cơ thể bị biến dạng. Mặt thì phẳng, mắt to lồi ra như hai quả trứng vịt, da chỗ phồng lên mọng nước như bị bỏng nặng, chỗ tuột đỏ, tóc trên đầu trầy dóc từng mảng. Sự bàn tán trong cả trại xác định người bị sát hại cứ kéo dài ngay cả trong bữa ăn, trước và sau giấc ngủ mà vẫn chưa xác định được. Chỉ biết chắc rằng, kẻ thù đã giở đến những ngón đòn tra tấn tàn độc nhất mà không lay chuyển được người tù – đồng đội của chúng tôi.
Trưa 15-4-1969, cả trại chuẩn bị chia cơm thì mọi người nhốn nháo nhìn ra ngoài hàng rào trước trại: Những đồng chí bị phòng nhì bắt đi trưa 12-4 đang được quân cảnh giải về, nhìn rõ chỉ còn 11 người. Tôi gặng hỏi Thiều: “Thế Xô đâu?”. Thiều rớm nước mắt, lặng đi. 11 đồng chí được tháo xiềng, bị tống thẳng vào chuồng cọp sau cổng trại. Tôi vội mang ca nước gạo rang, lấy cớ xin với giám thị cho anh em chuồng cọp uống để hỏi về tình hình của Xô. Gần đến chuồng cọp, tôi gặp Côi, cùng quê Hà Bắc và cùng bị bắt đi trong số 12 người trưa 12-4. Côi ngó quanh rồi nghẹn ngào nói: “Anh Kim ơi! Anh Xô chết rồi! Từ trưa hôm 12, chết thảm nhưng oanh liệt lắm”. Tôi chỉ kịp đưa ca nước cho Côi rồi quay vào ngay. Mọi người chờ sẵn, gặng hỏi nhưng tôi cứ nghẹn ở cổ.
Chờ đến chiều, bọn giám thị vắng mặt, Côi bình tĩnh kể tôi nghe: Ra đến phòng điều hành, bọn tra tấn đã chờ sẵn. Chúng dồn 12 anh vào phòng, xiềng tất cả lại, hầm hè đấm đá một hồi rồi đẩy mọi người ngồi sát tường, gọi riêng Xô ra. Đã có sắp đặt trước như Xô dự đoán, lần này, chúng cố ý giết anh để làm nhụt ý chí của những người còn lại, ít ra là làm nhụt chí 11 anh em đi cùng và hàng nghìn người trong trại. Vì vậy, Xô rất bình thản. Địch tra tấn bằng đủ thủ đoạn, Xô chỉ nói: “Tôi ngày hai bữa cơm tù, tự nói, tự làm những gì mình thấy cần nói, cần làm, không có ai xui ai khiến, cũng không có ai lãnh đạo, tôi không làm gì sai với bổn phận một tù binh chiến tranh”. Biết không làm gì được, chúng cho Xô vào bao tải buộc lại, lấy bếp dầu và xoong nước để sẵn lên lửa. Chốc chốc, chúng lại đá vào bao tải như đá bóng, anh em chỉ nghe tiếng “hự, hự”. Địch giội từng gáo nước sôi một, hỏi, trả lời, lặp đi lặp lại, Xô vẫn không một lời kêu ca van xin. Xoong thứ nhất chúng giội từ chân đến thắt lưng, cái bao tải cứ lăn đi lăn lại. Xoong thứ hai chúng giội đến bụng, ngực, cổ; tiếng Xô yếu dần. Xoong thứ 3, Xô vùng vẫy, thét lên chửi thẳng vào mặt quân thù, anh cũng kịp chào vĩnh biệt mọi người.
Tổ chức Đảng trong nhà lao giao nhiệm vụ cho Hội đồng hương Hà Bắc sưu tầm và tập hợp thông tin về sự hy sinh của đồng chí Xô để cả đảo tù học tập và noi gương. Tôi gặp Hùng, Phó bí thư Đoàn (nay thay Xô làm Bí thư) và một số đồng chí khác, anh cho biết: “Chi bộ và Đảng ủy nhà lao đã công bố kết nạp cho đồng chí Xô ngay từ khi anh báo cáo và vĩnh biệt tổ chức. Hôm nay 15-4-1969, Đảng ủy vừa thông báo quyết định chuẩn y chuyển chính thức đặc cách cho đảng viên mới kết nạp Nguyễn Đình Xô vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
Tối 15-4, lễ truy điệu đồng chí Xô được Hội đồng hương Hà Bắc tổ chức theo từng nhóm, vài huyện một để tránh sự theo dõi của kẻ địch (trại B5 có 23 người quê Hà Bắc, trong đó có Xô). Các nhóm đại diện các huyện có mặt khá đông đủ, ai nấy nhìn nhau hứa hẹn một lời thề son sắt, nguyện xứng đáng với đồng hương Xô, một trong những tấm gương tiêu biểu nhất của đảo tù Phú Quốc.
Noi gương Xô, cả đảo ngày đêm sôi sục đấu tranh với kẻ thù đòi dân sinh, dân chủ, chống đánh đập giết hại tù nhân... cho đến ngày toàn thắng.
Năm 1974, tôi bắt đầu viết hồi ký về Xô và đồng đội, hồi tưởng về một quá khứ oanh liệt cứ lặng lẽ trôi đi cùng năm tháng. Hy vọng, các bạn đồng cảnh, người đương thời và lớp lớp mai sau ghi nhớ sự kiện tên tuổi Nguyễn Đình Xô, một con người bình thường đã trở nên phi thường “một tấm thép đã được Đảng tôi luyện kỹ”.
Vũ Văn Kim
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận