Thứ Năm, 19/09/2013, 19:07

    Vinh quang thời hoa lửa

    QĐND - Khuất sâu trong con hẻm mịt mù bụi than, ngôi nhà cấp 4 của ông Phan Nhạn (nguyên máy trưởng các tàu 41, 43, 56 - Đoàn tàu không số năm xưa) thấp lè tè. Tiết trời cuối thu vậy mà không khí ngột ngạt đến khó thở. Đang tắm cho đứa cháu ngoại, thấy chúng tôi đến, ông dừng tay: “Bố mẹ bọn trẻ chia tay, tôi đành vừa làm ông, vừa làm cha của chúng!”...

    QĐND - Khuất sâu trong con hẻm mịt mù bụi than, ngôi nhà cấp 4 của ông Phan Nhạn (nguyên máy trưởng các tàu 41, 43, 56 - Đoàn tàu không số năm xưa) thấp lè tè. Tiết trời cuối thu vậy mà không khí ngột ngạt đến khó thở. Đang tắm cho đứa cháu ngoại, thấy chúng tôi đến, ông dừng tay: “Bố mẹ bọn trẻ chia tay, tôi đành vừa làm ông, vừa làm cha của chúng!”.

    Bận rộn là vậy nhưng ông Nhạn vẫn dành thời gian kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời mình. Tháng 3-1962, ông được cấp trên điều về Đoàn 759 (Đoàn tàu không số), sau đó biên chế về tàu 02 do đồng chí Nguyễn Dạt làm thuyền trưởng. Vốn quen với sông nước lại có tay nghề cơ khí, cấp trên tin tưởng giao cho ông giữ chức máy trưởng, kiêm tổ trưởng tổ bộc phá. Ngày 16-10-1962, tàu 02 nhận lệnh chở 20 tấn vũ khí vào vùng biển Cà Mau. Dẫu biết rằng chuyến đi là vô cùng nguy hiểm nhưng ông và mọi người đều rất háo hức.

    Đúng 23 giờ 45 phút, tàu 02 rời Cảng Đồ Sơn (Hải Phòng). Theo hải trình, tàu sẽ đi qua đảo Hải Nam, rồi vòng ra phía ngoài quần đảo Hoàng Sa ở vùng hải phận quốc tế, tránh sự kiểm soát gắt gao của máy bay và tàu chiến Mỹ. Thế nhưng, khi tàu ra khơi chừng gần chục hải lý thì gặp gió mùa Đông Bắc giật cấp 5, cấp 6. Máy chính, máy phụ hoạt động hết công suất nhưng con tàu vẫn cứ ỳ ra, khó có thể tiếp tục vượt biển theo lý trình như dự kiến. Trước tình hình đó, thuyền trưởng Nguyễn Dạt điện về đất liền xin cho tàu chuyển hướng đi gần quần đảo Hoàng Sa. Đây là một quyết định mạo hiểm vì đi vào vùng này dễ bị tàu địch phát hiện, nhưng cũng chẳng còn phương án nào tốt hơn. Được sự nhất trí của trên, tàu chuyển hướng. Gần 2 giờ đồng hồ vật lộn với sóng gió, tàu gặp sự cố mất liên lạc với sở chỉ huy. Trong lúc nguy nan, anh em vẫn bình tĩnh, mưu trí điều khiển tàu vượt qua vĩ tuyến 17 ngay trước mũi tàu chiến Hạm đội 7 của Mỹ.

    No image available

    Ông Nhạn (thứ 3 từ phải sang) cùng đồng đội thắp hương tưởng nhớ các đồng đội đã hy sinh.

    Trên chuyến vượt biển gian nan, ban ngày thủy thủ giả làm ngư dân thả lưới đánh cá, ngụy trang lừa địch; tối đến cho tàu tăng tốc nhằm thoát khỏi sự đeo bám của chúng. Hành quân đến ngày thứ sáu thì đồng chí nhân viên hải đồ thông báo, tàu cách vùng biển Cà Mau gần 200 hải lý, như vậy là chậm hai ngày so với dự kiến. Theo kế hoạch, để giữ bí mật cho bến, tàu chỉ vào thả hàng trong thời gian ngắn rồi ra ngay trước khi trời sáng. Thế nhưng, sau gần 3 giờ đồng hồ, tàu vẫn không bắt liên lạc và nhận được tín hiệu từ bến. Lúc này, các thủy thủ hết sức lo lắng. Nếu không vào bến ngay trong đêm, thì bắt buộc tàu phải chạy ngược ra vùng biển quốc tế, đợi đến đêm hôm sau mới vào lại. Nếu như vậy thì rất nguy hiểm vì tàu địch sẽ phát hiện được tàu của ta.

    - Kim đồng hồ nhích dần tới 4 giờ 20 phút, chúng tôi đang chuẩn bị cho tàu quay ra vùng biển quốc tế thì phát hiện bên mạn trái có một chiếc ghe. Thuyền trưởng ra lệnh dừng máy. Biết chắc đây là ghe đánh cá của ngư dân vùng giải phóng nên chúng tôi nhờ họ dẫn đường vào bến an toàn. Gặp nhau, thủy thủ tàu không số và những người ở bến cảm động, ôm nhau khóc ròng. Hôm đó, anh Tư Đức, bến trưởng đã thốt lên: “Tàu của các anh đúng là con tàu huyền thoại - Ông Phan Nhạn kể lại.

    Sau này ông Nhạn mới biết, do sự cố tàu 02 mất liên lạc, nên sở chỉ huy đã điện thông báo tình hình cho bến và hẹn thời gian đón tàu. Nhận điện, các đồng chí ở bến bố trí người trực suốt ngày đêm từ Gành Hào đến mũi Cà Mau để đón tàu nhưng chờ hơn một ngày đêm mà vẫn không nhận được tín hiệu liên lạc. Vì thế anh em ở bến cho rằng, tàu 02 gặp nạn và tất cả thủy thủ đã hy sinh, nên công tác đón tàu bị hủy bỏ…

    Từ chuyến vượt biển đầu tiên thắng lợi, Phan Nhạn tiếp tục được điều về giữ chức máy trưởng các tàu 41, 43, 56. Từ năm 1962 đến 1968, ông đã 15 lần vượt biển trên các con tàu không số chở vũ khí vào chiến trường miền Nam. Tàu 41 và nhiều đồng đội của ông được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân...

    Đất nước thống nhất, ông chuyển gia đình vào Nha Trang sinh sống. Vợ chồng ông cùng ba đứa con tá túc trong căn phòng tập thể chật chội. Vợ lại bị bệnh tim bẩm sinh nên đau ốm liên miên. Ông xoay trở đủ nghề kiếm tiền chữa bệnh cho vợ. Năm 1991, bà Khâm (vợ ông) qua đời để lại 3 đứa con thơ dại. Thời điểm này, phần đau buồn vì người vợ thân yêu về cõi vĩnh hằng, phần vì vết thương cũ tái phát, ông Nhạn tưởng chừng không qua khỏi, nhưng nhớ lời trăng trối của vợ trước lúc đi xa, ông gắng gượng sống để nuôi con.

    Do điều kiện kinh tế quá eo hẹp nên ông không thể lo cho con vào làm việc ở những nơi có mức lương khá giả. Bây giờ ba người con của ông vẫn chưa có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh. Vợ chồng cô con gái lớn chia tay, hai đứa cháu ngoại về ở hẳn với ông. Nhẽ ra ở tuổi “xưa nay hiếm” được hưởng cuộc sống an nhàn, đằng này ông vẫn hằng ngày lo từng bữa cơm, ngụm nước; lo tắm giặt cho hai cháu ngoại. Ở tuổi 80, con người huyền thoại ấy vẫn đang khó nhọc bươn chải giữa đời thường… vậy mà khi nhắc về thời hoa lửa, mắt ông vẫn sáng lên. Ánh mắt của con người không khuất phục trước bom đạn và sóng gió cuộc đời.

    Bài và ảnh: PHAN TIẾN DŨNG

    hoangha

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...