QĐND - LTS: Trong những ngày làm việc của Đại hội lần thứ XII của Đảng, các đại biểu có nhiều ý kiến đóng góp thẳng thắn, trách nhiệm vào văn kiện Đại hội, đồng thời đề xuất các giải pháp triển khai thực hiện nghị quyết trong thời gian tới. Trong số ra hôm nay, Báo Quân đội nhân dân trích đăng một số tham luận tại Đại hội...
* Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
* Đồng chí Phạm Thị Hải Chuyền, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Thực hiện tốt an sinh xã hội là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế
Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước, là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh.
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với các chính sách xã hội. Giai đoạn 2012-2015 đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội của nước ta. Hệ thống chính sách, pháp luật tiếp tục mở rộng hơn quyền hưởng và mức hưởng các chế độ ưu đãi xã hội và an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Thể chế hóa quan điểm của Đảng và thực hiện Hiến pháp năm 2013, việc bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân được thực hiện đồng bộ, thông qua tăng cường phát triển việc làm, mở rộng sự tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cải cách chính sách trợ giúp xã hội và giảm nghèo bền vững. Các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện tốt, đời sống người có công được nâng lên. Năm 2015, cả nước có 52,9 triệu người có việc làm. Chuyển dịch cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế có chuyển biến tích cực, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp giảm, năm 2015 còn 44,3% (giảm 4,4% so với năm 2010). Có gần 2,7 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng (xấp xỉ 3% dân số); có 408 cơ sở trợ giúp xã hội được thành lập, đã tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc hơn 41.450 đối tượng bảo trợ xã hội; tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia còn dưới 4,5%...
Đảng bộ Hà Nội xác định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa phải tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH. Phát triển kinh tế phải dựa trên các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành kinh tế thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực để đẩy mạnh CNH, HĐH Thủ đô; nhưng đồng thời phải đi đôi với phát triển văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; hội nhập quốc tế phải gắn liền với độc lập dân tộc, giữ vững ổn định chính trị và quốc phòng-an ninh, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong quá trình tổ chức thực hiện, Hà Nội đã vận dụng sáng tạo kinh tế thị trường thông qua thực hiện các giải pháp phát triển đồng bộ, vững chắc các loại thị trường, trong đó sớm hình thành một số thị trường mới. Chủ động đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp hiệu quả giữa phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô. Nhờ sự vận dụng sáng tạo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với đặc thù của Thủ đô, cơ cấu kinh tế của Hà Nội có sự chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được cải thiện đồng bộ và hiện đại hơn; tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) có sự tăng trưởng vượt bậc sau 30 năm đổi mới: GRDP tăng từ 4,48% giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) lên 9,3% giai đoạn 2009-2015; GRDP đầu người năm 2015 tăng gấp 6,4 lần so với năm 1990; vị thế, uy tín Thủ đô ngày càng được nâng cao.
Để phát triển thành công kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết, hết sức quan trọng. Thời gian tới Đảng, Nhà nước cần rà soát lại mô hình tổng quát phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta cho phù hợp với yêu cầu hội nhập sâu rộng của đất nước. Tiến hành rà soát và có lộ trình điều chỉnh, bổ sung các chính sách, pháp luật và văn bản hướng dẫn có liên quan về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là về chế độ sở hữu, phân phối và lưu thông hàng hóa, bảo đảm tính đồng bộ, không chồng chéo, phù hợp các quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia. Bên cạnh việc vận dụng thống nhất, đồng bộ và hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong cả nước, cần tính đến các đặc thù của từng vùng, từng địa phương...
NGUYỄN ĐẠT (lược trích)
* Đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nâng cao chất lượng tăng trưởng
Đoàn đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhất trí cao với những mục tiêu và giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh được đề ra trong các Văn kiện trình Đại hội XII. Chúng tôi xin nhấn mạnh và đề xuất các giải pháp về nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh.
Đảng cần lãnh đạo hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, coi đó là nội dung cốt lõi nhất để thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng. Sự chuyển hướng ưu tiên cho chất lượng tăng trưởng sẽ tập trung vào sử dụng toàn diện và hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm an sinh xã hội và các khuôn khổ thể chế cho một nền tảng quản trị tốt. Các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng rất đa dạng, bao quát trên nhiều khía cạnh, từ nâng cao sự đóng góp của khoa học công nghệ đến chất lượng nguồn nhân lực; từ phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao đến phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh xã hội; từ giữ vững tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đến bảo đảm các chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống, chăm lo đời sống nhân dân. Các giải pháp về nâng cao chất lượng tăng trưởng phải khơi thông các tắc nghẽn trong cơ chế ngành và liên ngành, hình thành những động cơ khuyến khích, tích hợp các chiến lược sử dụng hiệu quả và huy động các nguồn lực trong xã hội.
Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN cần tạo đột phá trong cải cách hành chính và tài chính công; quy định minh bạch ba cơ chế về phân quyền, phân cấp và ủy quyền cho địa phương; đồng thời tạo cơ chế để tăng cường hiệu lực kiểm tra, thanh tra của Chính phủ đối với chính quyền địa phương; trong đó nghiên cứu tập trung hơn nữa vào các nhiệm vụ gồm: Hoạch định chính sách, ban hành các quy định và kiểm tra, giám sát, chế tài vi phạm. Phát huy vai trò động lực của các đô thị để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh. Động lực cho chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nằm ở các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có các đô thị. Nâng cao năng suất lao động, tích tụ và lan tỏa tri thức là tác nhân quan trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới chính sách để khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao năng suất thông qua hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, phát triển các kết nối giữa các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp tại địa phương, nâng cao chất lượng quản trị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sử dụng hiệu quả công cụ chính sách kinh tế- tài chính để thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nội bộ các ngành kinh tế; tiếp tục đổi mới các chính sách về thuế, phí đất đai, đầu tư công, cung ứng dịch vụ công... nhằm khuyến khích có điều kiện để thúc đẩy các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm và hình thành những “cụm liên kết sản xuất”...
BÍCH NGỌC (lược trích)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận