Những diễn biến phức tạp về tình hình hạn hán khu vực phía Bắc đang là mối quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành, trong đó có hai ngành kinh tế quan trọng là nông nghiệp và điện lực. Để có nước tưới cho vụ lúa đông xuân, theo đề nghị của ngành nông nghiệp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có kế hoạch tăng lượng xả nước từ các hồ thuỷ điện xuống hạ du (thành ba đợt trong khoảng thời gian từ ngày 14-1
![]() |
|
Đoạn sông Hồng này mực nước dưới 1,8m (ảnh Phúc Thắng) |
Những diễn biến phức tạp về tình hình hạn hán khu vực phía Bắc đang là mối quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành, trong đó có hai ngành kinh tế quan trọng là nông nghiệp và điện lực. Để có nước tưới cho vụ lúa đông xuân, theo đề nghị của ngành nông nghiệp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có kế hoạch tăng lượng xả nước từ các hồ thuỷ điện xuống hạ du (thành ba đợt trong khoảng thời gian từ ngày 14-1 đến ngày 19-2), nơi hàng trăm nghìn héc-ta đất gieo cấy lúa đang khát khao chờ nước.
Chúng tôi thấy rằng việc xả nước ở mức đủ nâng cao năng lực hoạt động của tuốc-bin, tăng lượng nước cho các sông, bổ sung thêm nguồn điện phục vụ bơm nước chống hạn là hợp lý. Theo tính toán của EVN thì trong các đợt xả nước, tổng lưu lượng xả trung bình mỗi ngày từ ba hồ thủy điện Hòa Bình, Thác Bà và hồ Tuyên Quang khoảng từ 1.100 đến 1.400m3/s. Thực tế, do năm nay mưa ít, lưu lượng nước “đầu vào” của hồ Hòa Bình và hồ Thác Bà giảm tới hơn 500 triệu mét khối nước. Sự thiếu hụt nguồn nước bổ sung, cộng với việc “chia nước” chống hạn, có thể dẫn tới nguy cơ thiếu điện, đặc biệt trong các tháng cuối mùa khô. Theo khung mùa vụ, đến cuối tháng 2 các tỉnh mới gieo cấy xong lúa đông xuân. Muốn có đủ lượng nước làm đất, mực nước cần phải cao từ 2,3 mét trở lên, trong khi những ngày qua mực nước sông Hồng luôn ở mức dưới 1,8 mét.
Để bảo đảm sự phát triển chung của nền kinh tế, cần tính đến lợi ích hài hoà giữa “các bên”. Đối với ngành nông nghiệp, việc chống hạn là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách lúc này. Các địa phương cần huy động tối đa hệ thống trạm bơm, cống thủy lợi, khai thông kênh mương, làm thủy lợi nội đồng, tận dụng có hiệu quả nguồn nước từ trên hồ thủy điện xả xuống để cấy lúa, dự trữ nước. Ở những vùng cao cục bộ, vùng xa nguồn nước, diện tích ít, năng suất thấp, không nên “cố” gieo cấy, tạo áp lực “khát nước” đối với ngành điện. Có thể tính đến phương án chuyển đổi mùa vụ, đa dạng hóa cây trồng (như trồng rau màu, trồng hoa, trồng cỏ chăn nuôi...). Các công ty khai thác công trình thủy lợi cần tăng cường bơm vào các giờ thấp điểm (khoảng từ 22 giờ đêm đến 6 giờ sáng), bơm dã chiến, bơm luân phiên, phân phối nước hợp lý để cấy lúa.
Còn đối với ngành điện, dù phải thực hiện giải pháp chia nước với ngành nông nghiệp, nhưng cũng không để xảy ra tình trạng thiếu điện. Ngay từ bây giờ, bài toán đặt ra với EVN là cần tính toán, xác định lưu lượng nước trong các hồ thủy điện, phối hợp chặt chẽ với ngành nông nghiệp kế hoạch phát điện, xả nước trong từng giờ, từng ngày, tránh tình trạng lúc có nước thì mất điện, lúc có điện thì thiếu nước! Đồng thời, chủ động tuyên truyền ý thức tiết kiệm điện trong sản xuất, sinh hoạt cho người dân. Về lâu dài, cần có phương án “chống thiếu điện”, đa dạng hóa nguồn điện, tránh phụ thuộc quá nhiều vào loại “than trắng”. Bởi vì, trên thực tế, nguồn năng lượng tưởng như vô tận này không phải lúc nào cũng có thể khai thác một cách... vô biên.
Tăng lượng xả nước chống hạn mà vẫn bảo đảm đủ nước để phát điện. Đó là bài toán khó đang cần lời giải chung của ngành điện và ngành nông nghiệp.
LÊ THIẾT HÙNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận