QĐND - Sau khi bị dư luận lên án và các lực lượng chức năng tích cực vào cuộc, đến nay tình trạng sản xuất “chè bẩn” tại các lò thủ công ở một số tỉnh phía Bắc đã cơ bản được xử lý và ngăn chặn. Tuy nhiên, tình trạng “khát” nguyên liệu của các nhà máy chè ngay tại các vùng chè truyền thống thì vẫn rất căng thẳng...
QĐND - Sau khi bị dư luận lên án và các lực lượng chức năng tích cực vào cuộc, đến nay tình trạng sản xuất “chè bẩn” tại các lò thủ công ở một số tỉnh phía Bắc đã cơ bản được xử lý và ngăn chặn. Tuy nhiên, tình trạng “khát” nguyên liệu của các nhà máy chè ngay tại các vùng chè truyền thống thì vẫn rất căng thẳng. Theo báo cáo của Hiệp hội Chè Việt Nam, hiện tại đa số các nhà máy chè ở phía Bắc đều đang hoạt động dưới 50% công suất vì thiếu nguyên liệu. Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ vì nguyên liệu bị gom giữ để sản xuất thủ công như vừa qua mà còn vì nhiều bất cập khác.
![]() |
|
Ảnh minh họa/Internet |
Chẳng riêng gì ngành chè mà nhiều doanh nghiệp chế biến và kinh doanh lúa gạo, mía đường, cà phê, cao su, thủy sản… lâu nay vẫn luôn bị động, lúng túng trong việc thu mua nguyên liệu -khi thì bị nông dân kêu là “được mùa, ép giá”; khi lại bị nông dân bỏ rơi để “bắt tay” với doanh nghiệp khác có giá thu mua cao hơn. Mặc dù giữa các doanh nghiệp và nông dân trong vùng quy hoạch nguyên liệu vẫn có các hợp đồng hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản, nhưng mối quan hệ này không bền chặt và thiếu các chế tài pháp lý hỗ trợ, nên chuyện “trục trặc” vẫn thường xuyên xảy ra.
Khắc phục tình trạng trên đây, vừa qua ở tỉnh An Giang có mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” do Công ty Bảo vệ thực vật An Giang đề xướng và chủ trì. Đây là hình thức nông dân góp ruộng thành các hợp tác xã làm ăn kiểu mới. Mỗi “Cánh đồng mẫu lớn” từ vài trăm đến vài nghìn héc-ta, thuận tiện cho các phương tiện cơ giới tác nghiệp. Các quy trình sản xuất lúa “sạch” được doanh nghiệp hỗ trợ vốn, kỹ thuật và giám sát nghiêm ngặt nên sản phẩm đạt chất lượng cao. Do tổ chức và điều hành sản xuất hợp lý, nhiều khâu cơ giới hóa nên chi phí sản xuất giảm gần 30% và nhờ chất lượng gạo tăng nên giá cũng cao hơn 20% so với gạo thường. Tôn chỉ của mô hình này là phải đặt lợi ích nông dân trước lợi ích doanh nghiệp. Vì vậy, bà con luôn được hưởng những ưu đãi thiết thực, như: Khi giá gạo thấp thì được doanh nghiệp miễn phí kho tạm trữ trong một tháng để chờ giá lên. Nếu sau đó giá vẫn thấp thì doanh nghiệp sẽ thu mua với giá bảo đảm cho nông dân có lãi so với chi phí thực tế…
Từ thành công bước đầu ở An Giang, vụ hè-thu 2011 đã có thêm 13 tỉnh ở miền Nam triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là mô hình thí điểm của một doanh nghiệp, vì vậy rất cần sự phối hợp kiểm tra, đánh giá và “nghiệm thu” của các ngành chức năng để nhân rộng trên cả nước. Hy vọng rằng, đây cũng là một mô hình gợi ý thiết thực cho nhiều ngành khác, để giải bài toán “được mùa, mất giá” cho nông dân và tình trạng khan hiếm nguyên liệu ngay trong vụ thu hoạch của các doanh nghiệp. Điều quan trọng là đời sống bà con nông dân ngày càng khá hơn và hàng nông sản Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị trường quốc tế!
Mai Nam Thắng
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận