Chuyển giao công nghệ cao có xu hướng giảm
Với nước đang phát triển, kỳ vọng trong thu hút FDI ngoài bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, thì mục tiêu quan trọng hàng đầu là tính lan tỏa về công nghệ, khoa học kỹ thuật; kỹ năng, lao động chất lượng cao và trình độ quản lý. Đặc biệt, đối với nước đang phát triển như Việt Nam, việc đón nhận công nghệ từ các doanh nghiệp FDI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước phát triển. Thế nhưng, đây lại là hạn chế của đầu tư FDI tại Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng thừa nhận, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn từ khu vực FDI để hỗ trợ cho phát triển kinh tế… vẫn chưa được như kỳ vọng. Trong một số trường hợp, đó còn là công nghệ lạc hậu, gây ảnh hưởng tới môi trường, chất lượng tăng trưởng. Đặc biệt, sự liên kết và kết nối giữa các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam rất hạn chế. Các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam chủ yếu vẫn là gia công lắp ráp, sử dụng lao động giá rẻ, tận dụng ưu đãi của Chính phủ Việt Nam.

Công ty Cổ phần Công nghệ năng lực Việt (Hà Nội) cung cấp nhiều sản phẩm linh kiện cho các doanh nghiệp FDI đang đầu tư tại Việt Nam như: Honda, Canon, Yamaha, Panasonic… Ảnh: MINH ĐỨC
Số liệu của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, hiện nay, doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 50% giá trị sản lượng công nghiệp; chiếm hơn 72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước với mặt hàng chủ lực là sản phẩm chế tạo có giá trị gia tăng cao, bù đắp được nhập siêu của doanh nghiệp trong nước và tạo ra xuất siêu. Thế nhưng, số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước tham gia cung ứng linh kiện cấp 1 cho các doanh nghiệp FDI lớn lại là rất nhỏ...
Mặc dù Việt Nam đã thu hút nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới, song sự phát triển của những tập đoàn này không kéo khu vực doanh nghiệp trong nước phát triển. Theo kết quả điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp FDI chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ doanh nghiệp Việt Nam, còn lại nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi chưa tương xứng với khối vốn FDI khá lớn tại Việt Nam, quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất còn hạn chế. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (2016), hiệu quả chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI đối với Việt Nam ngày càng có xu hướng giảm dần và càng có khoảng cách so với các quốc gia trong khu vực. Theo đó, năm 2009, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 57 trên toàn cầu về hiệu quả chuyển giao công nghệ, đến năm 2014, Việt Nam đã tụt xuống vị trí thứ 103, giảm 46 bậc sau 5 năm, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, như: Malaysia (xếp thứ 13), Thái Lan (xếp thứ 36), Indonesia (xếp thứ 39), Campuchia (xếp thứ 44).
Thực tiễn của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là minh chứng rõ nhất cho điều này. Sau nhiều năm phát triển, đến nay, công nghệ sản xuất ô tô không có nhiều cải thiện, vẫn chỉ dừng lại ở nhập khẩu linh kiện, lắp ráp và phân phối trên thị trường nội địa... Đứng từ góc độ doanh nghiệp, đại diện Công ty TNHH Panasonic Việt Nam chia sẻ, rất muốn hợp tác với các công ty trong nước trong cung cấp nguyên liệu, linh kiện đầu vào, nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa của công ty cũng mới chỉ đạt khoảng 20% với các linh kiện đơn giản, như: Bao bì, nút nhựa, sản phẩm trang trí… còn những thiết bị đắt tiền, công ty phải nhập khẩu từ Nhật Bản, Trung Quốc.
Chưa quan tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm nêu hiện trạng, Việt Nam vẫn ở vị thế hấp dẫn trong thu hút FDI, tuy nhiên, quy mô bình quân của các dự án ngày càng nhỏ, chỉ có một vài dự án tỷ USD, còn đa phần là triệu USD, thậm chí là dưới 1 triệu USD. Tất nhiên, trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, dự án về công nghệ nhất thiết không cần thiết phải có quy mô quá lớn, mà là vấn đề công nghệ của dự án, đặc biệt là công nghệ nguồn. Nhiều chuyên gia lo ngại, việc Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào hoạt động của doanh nghiệp FDI, đặc biệt là một số công ty lớn như Samsung. Nếu như năm 2009, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ chiếm 32,9% tổng xuất khẩu thì con số này đã tăng lên 70,2% năm 2016 và hơn 72% trong năm 2017.
Về mặt phát triển nhân lực và các yếu tố xã hội, theo Thứ trưởng Vũ Đại Thắng, doanh nghiệp FDI còn ít đào tạo, thậm chí dùng cơ chế thử việc để liên tục thay lao động. Nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nữ rất cao, nhưng giá nhân công thấp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây bất ổn trong quan hệ lao động. Việc di cư lao động ồ ạt giữa các vùng, địa phương theo từng đợt tuyển lao động của doanh nghiệp FDI lớn cũng làm nảy sinh vấn đề an sinh xã hội, như: Công tác tái định cư, bảo đảm cơ sở hạ tầng thiết yếu. Thực tế tại khu công nghiệp Samsung (Thái Nguyên) mà chúng tôi khảo sát đã chứng tỏ điều này.
Đóng góp vào ngân sách còn thấp
30 năm qua, các chính sách ưu đãi đầu tư là một trong những biện pháp cần thiết và quan trọng giúp Việt Nam đạt được những thành tựu lớn trong thu hút FDI. Tuy vậy, những tồn tại, hạn chế của chính sách này dần lộ rõ, khi trên khía cạnh nào đó vẫn còn dàn trải, chồng chéo, thậm chí còn thiếu sự thống nhất, thiếu hiệu quả giữa các vùng, miền, giữa các lĩnh vực, ngành nghề, khiến thu hút FDI còn những điểm chưa đạt kỳ vọng, đặc biệt để xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí nguồn thu của Nhà nước khi có tình trạng doanh nghiệp FDI có lợi nhuận lớn song lại đóng góp vào ngân sách Nhà nước thấp nhất xét trong mối quan hệ với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân…
Ông Phạm Đình Thúy, Vụ trưởng Vụ Thống kê công nghiệp (Tổng cục Thống kê) dẫn chứng, do chính sách thu hút FDI nên các doanh nghiệp FDI thuộc lĩnh vực sản xuất sản phẩm công nghệ cao như lắp ráp, phân phối sản phẩm viễn thông, linh kiện điện tử được miễn giảm nhiều loại thuế, trong đó có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu. Cũng do mong muốn thu hút FDI nên nhiều địa phương có chính sách ưu đãi vượt khung. Trước đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý chung về FDI, các địa phương có chính sách ưu đãi chung. Nhưng sau khi phân cấp về địa phương, mỗi nơi có mức thu hút khác nhau; cùng với đó, do cơ chế chính sách còn lỏng lẻo, một số doanh nghiệp FDI còn lách luật, chuyển giá mà cơ quan Nhà nước chưa phát hiện ra hoặc chưa có chế tài xử phạt. Do đó, ông Phạm Đình Thúy đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành cần rà soát chặt chẽ để khống chế việc các địa phương cho ưu đãi vượt mức để thu hút dự án FDI, nhằm tạo công bằng cho các khu vực kinh tế.
Theo nhiều chuyên gia, tồn tại lớn nhất của thu hút FDI trong 30 năm qua là thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa khu vực doanh nghiệp FDI với khu vực doanh nghiệp trong nước. Về vấn đề này, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Phan Hữu Thắng cho rằng: “Khách quan mà nói, nguyên nhân chính vẫn là do năng lực hạn chế của doanh nghiệp trong nước, chưa đủ năng lực tham gia được vào chuỗi sản xuất của họ. Doanh nghiệp FDI khi đầu tư phải nhắm đến lợi nhuận tối đa. Họ không bao giờ chuyển công nghệ cốt lõi của họ cho mình nếu mình là đối tác yếu, không mang lại lợi ích cho họ".
Một nguyên nhân khác là việc quản lý, điều hành chính sách còn có những bất cập. Chúng ta đã để cho tỷ lệ doanh nghiệp 100% vốn FDI là quá lớn, điều này hạn chế việc tiếp cận công nghệ và kỹ thuật hiện đại của người Việt Nam. Lý giải về vấn đề này, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương nêu nguyên nhân, do nhu cầu vốn, giai đoạn trước đây, các chính sách thu hút FDI còn thiếu sự chọn lọc và tập trung nhiều vào số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng dự án. Chúng ta vẫn thu hút theo kiểu bị động, doanh nghiệp FDI tới và đón nhận chứ chưa chủ động đi tìm.
“Người nhà” hay “người ngoài”?
Trước quan điểm kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào khu vực FDI, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, nhận định này là chưa công bằng. Bởi lẽ, khu vực kinh tế FDI đã trở thành một thành phần không thể thiếu đối với nền kinh tế Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng. Mặt khác, cần phải đặt vấn đề làm thế nào để khu vực kinh tế tư nhân trong nước phát triển nhanh hơn, bắt kịp tốc độ phát triển của khu vực kinh tế FDI, tham gia được chuỗi giá trị toàn cầu và tạo lập được sự liên kết chặt chẽ giữa hai khu vực, bổ trợ lẫn nhau, cùng nhau phát triển. “Hãy coi khu vực doanh nghiệp FDI là những con ong, vừa hút mật, vừa thụ phấn cho hoa. Thực tế, quả ngọt ngày hôm nay có đóng góp không nhỏ của khu vực này. Để tận dụng lợi thế của doanh nghiệp FDI mà không làm mất đi tính tự chủ kinh tế, cần tiếp tục có các giải pháp căn cơ để doanh nghiệp trong nước phát triển nhanh hơn, tiệm cận với các tiêu chuẩn của khối FDI. Nếu không thu hẹp khoảng cách đó, không thể liên kết với nhau thì doanh nghiệp nội và doanh nghiệp ngoại sẽ mãi là hai đường thẳng song song”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nói.
Như thế, trong tư duy của những nhà quản lý Việt Nam thì doanh nghiệp FDI đang dần được coi như “người trong nhà”, được đối xử bình đẳng với doanh nghiệp Việt Nam, và thậm chí còn được ưu ái hơn. Thế nhưng, liệu doanh nghiệp FDI có coi Việt Nam như quê hương của mình để nỗ lực đóng góp dựng xây hay không thì còn là dấu hỏi. Những vụ việc chuyển giá để trốn thuế của Coca-Cola; gây ô nhiễm môi trường của Vedan, Formosa là những bài học đắt giá cho các cơ quan quản lý của Việt Nam trong việc quản lý, giám sát các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư FDI, chúng ta cần lựa chọn kỹ hơn, có cơ chế khuyến khích ưu đãi các doanh nghiệp công nghệ cao, các doanh nghiệp có đóng góp tốt, đồng thời dần loại bỏ những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thiếu trách nhiệm, công nghệ lạc hậu, gây tổn hại môi trường, trốn tránh nghĩa vụ thuế.
(còn nữa)
PHÚ THỌ - QUANG PHƯƠNG - VŨ DUNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận