Ngày 22-12, tại Hà Nội, Tổng cục Dân số (Bộ Y tế) đã tổ chức cuộc hội thảo về: Can thiệp thí điểm góp phần làm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh. Ý kiến của các đại biểu cho thấy tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam đã đến mức báo động...
Ngày 22-12, tại Hà Nội, Tổng cục Dân số (Bộ Y tế) đã tổ chức cuộc hội thảo về: Can thiệp thí điểm góp phần làm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh. Ý kiến của các đại biểu cho thấy tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam đã đến mức báo động, chúng ta cần phải hành động kịp thời.
Nguy cơ thay đổi cơ cấu dân số theo chiều hướng xấu
Ông Phạm Năng An, Phó vụ trưởng Vụ Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (Tổng cục Dân số-Bộ Y tế) cho biết, tỉ số giới tính khi sinh (số bé trai trên 100 bé gái sinh ra trong năm) ở nước ta đã liên tục tăng trong những năm gần đây. Năm 1999 tỉ số giới tính khi sinh là 107, sau đó tăng liên tục qua các năm và đạt mức 112 vào giữa năm 2007. Con số này đã vượt khá xa tỉ số giới tính khi sinh theo quy luật tự nhiên là từ 103 đến 106 và tương đương mức tỉ số giới tính khi sinh vào năm 1989 của Trung Quốc, khi nước này rơi vào tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh với tỉ lệ là 111,9. Tỉ số giới tính khi sinh của nước ta đến muộn hơn so với các nước trong khu vực, khoảng từ những năm 2000 – 2007 nhưng lại nhanh chóng ở mức báo động. Ngày càng có nhiều vùng địa lý kinh tế có tỉ số giới tính khi sinh vượt quá 110. Năm 1999 chỉ có Đồng bằng sông Cửu Long nhưng tới giữa năm 2006 đã có tới 3 vùng kinh tế vượt ngưỡng.
![]() |
|
Có thể bắt gặp tình trạng khá phổ biến ở miền núi: Trẻ em nam nhiều hơn trẻ em nữ. Ảnh: Trọng Hải |
Chưa kể các hậu quả xã hội nghiêm trọng khác như việc gia tăng các loại tội phạm liên quan tới lạm dụng tình dục, bạo lực gia đình, những điều đó dù trực tiếp hay gián tiếp đều gây cản trở cho việc thực hiện công bằng xã hội, tăng áp lực cưới xin, dẫn tới lập gia đình sớm, buôn bán phụ nữ dưới hình thức hôn nhân…
Cần cách làm mới
Các nguyên nhân chính gây ra mất cân bằng giới tính khi sinh giữa trẻ em nam và nữ đã được nghiên cứu và đánh giá cụ thể. Theo PGS.TS Phạm Bá Nhất, Vụ trưởng Vụ Dân số-Kế hoạch hóa gia đình thì có những nguyên nhân chính sau: Về yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội, trong hệ thống gia đình phụ hệ con trai là người nối dõi tông đường, duy trì huyết thống gia đình, dòng tộc, thờ cúng tổ tiên. Con trai được xác định rất cần cho các lao động sản xuất nặng nhọc, là chỗ dựa vững chắc cho cha mẹ khi về già, do con gái lấy chồng sẽ về nhà chồng. Những quan niệm trên đã chi phối tư tưởng và ý thức xã hội, mà cụ thể là các cặp vợ chồng trong việc lựa chọn giới tính khi sinh. Tư tưởng này được các chuyên gia đánh giá là còn xuyên suốt trong một bộ phận dân cư ở nhiều quốc gia, nhất là châu Á.
![]() |
|
Tuyên truyền công tác dân số tại vùng cao tỉnh Lai Châu. Ảnh: Trọng Hải |
Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân liên quan tới chính sách và pháp luật. PGS.TS Phạm Bá Nhất cho rằng, cần phải thừa nhận chính sách dân số 1-2 con giải quyết tốt vấn đề quy mô dân số nhưng trong điều kiện phong tục, tập quán trọng nam hơn lại tạo ra sức ép đối với việc lựa chọn giới tính đối với thai nhi (chọn thai nhi nam). Đối với các cặp vợ chồng sinh con một bề là gái, nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ số giới tính khi sinh rất cao ở các trẻ em là con thứ 3 trở lên. Việc cho phép nạo, hút thai không hạn chế đã giúp các cặp vợ chồng tránh mang thai có giới tính ngoài ý muốn, lợi dụng để thực hiện chọn giới tính bằng cách loại bỏ thai nhi nữ. Thêm vào đó là việc một số khoản, mục nghiêm cấm, xác định giới tính thai nhi trong Pháp lệnh dân số được thực hiện chưa hiệu quả. Các chính sách liên quan tới bình đẳng giữa nam giới và nữ giới còn rất hạn chế.
Đề án của Tổng cục Dân số đưa ra mục tiêu tăng cường tuyên truyền bằng nhiều hình thức, cung cấp thông tin về giới và giới tính khi sinh cho người dân, trước hết là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, những người cung cấp dịch vụ siêu âm, nạo phá thai, những người có uy tín trong cộng đồng nhằm hạn chế các hành vi sinh đẻ không theo quy luật tự nhiên. Cùng với đó là việc thực thi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giới tính khi sinh. Các cơ sở siêu âm, xét nghiệm, nạo phá thai sẽ phải cam kết không thực hiện lựa chọn giới tính khi sinh và sẽ thường xuyên bị kiểm tra, rà soát hoạt động. Không ngừng khuyến khích, xây dựng các chương trình hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái trong học tập, chăm sóc sức khỏe sinh sản, lao động sản xuất, tạo bình đẳng trong gia đình và xã hội.
Có thể thấy rõ hậu quả của những nhận thức chưa đúng dẫn tới hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, gây mất cân bằng giới tính. Chúng ta không thiếu những biện pháp tốt nhưng yếu tố quyết định là cần thực thi một cách nghiêm túc. Phải có sự thấu hiểu và chung tay của toàn xã hội. Có như vậy mới dần ổn định cân bằng giới, xây dựng một cơ cấu dân số ổn định, bền vững, bảo đảm sự phát triển của tương lai nòi giống và đất nước.
HOÀNG TRƯỜNG GIANG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận