Thứ Năm, 16/11/2017, 23:20

    Cần huy động tối đa nguồn lực

    QĐND - Những năm qua, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được thực thi, góp phần nâng cao thu nhập, tạo lập một nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững cho người làm nghề rừng. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện, chính sách này còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập.

    Thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và chủ trương xã hội hóa nghề rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả DVMTR có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-11-2011.

    Nghệ An là một trong những địa phương được đánh giá thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR. Hiện nay, tỉnh áp dụng thu 3/5 đối tượng đã được quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP là cơ sở sản xuất thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch và cơ sở sản xuất nước công nghiệp. Từ năm 2011 đến 2016, tỉnh chi trả hơn 174 tỷ đồng DVMTR cho tổng diện tích hơn 228.106ha. Nhờ vậy, người dân có nguồn thu nhập đáng kể từ việc nhận khoán bảo vệ rừng. Chỉ tính riêng năm 2017, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An đã ký hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR đối với 23/30 cơ sở sản xuất thủy điện, nước sạch và cơ sở sản xuất nước công nghiệp với số tiền hơn 32,7 tỷ đồng.  

    Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần nâng cao trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ và phát triển rừng. Ảnh: Kim Dung. 

    Ông Nguyễn Khắc Lâm, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An cho biết: “Chính sách chi trả DVMTR được người dân đồng thuận, hứng khởi khi có thêm nguồn thu nhập ổn định, động viên những người làm nghề rừng nâng cao trách nhiệm, gắn bó, tâm huyết với công tác bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ lưu vực thủy điện. Các đối tác hưởng lợi từ DVMTR cơ bản đều chấp hành tốt việc nộp phí môi trường rừng, xem như một “mác xanh” trong hoạt động bảo vệ môi trường”.

    Bản Xiềng Tắm, xã Mỹ Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An nhận khoán hơn 583ha rừng. Trung bình mỗi năm, bản nhận hơn 100 triệu đồng từ DVMTR. Ông Vy Văn Luận, Trưởng bản Xiềng Tắm cho biết: “Số tiền này bản chia ra ba loại quỹ: Quỹ tuần tra, bảo vệ rừng; quỹ chi chung; quỹ cho vay. Nhờ chính sách này, bản có thêm nguồn thu cho đồng bào, dân bản không đi phát nương làm rẫy nữa, khi có các hoạt động phá rừng đều báo cho lực lượng chức năng”.

     Hà Tĩnh hiện có diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 364.800ha, chiếm 60,2% diện tích tự nhiên, được đánh giá là một trong những tỉnh có tiềm năng, lợi thế về rừng và đất lâm nghiệp. Bình quân DVMTR thu đạt 2,5 tỷ đồng/năm. Nguồn thu không lớn nhưng với chính sách này đã động viên người dân và các lực lượng chức năng gắn bó, nâng cao trách nhiệm trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.

    Bên cạnh những hiệu quả, lợi ích, điều băn khoăn nhất của những người làm nghề rừng hiện nay là mức chi trả DVMTR còn thấp. Hầu hết các đối tượng cung ứng DVMTR nhận được mức chi trả không tương xứng với công sức bỏ ra để bảo vệ và phát triển rừng. Mặt khác, mức chi trả DVMTR giữa các lưu vực, các địa phương có sự chênh lệch. Có sự bất cập này do nguồn thu DVMTR chủ yếu từ thủy điện, chi trả theo lưu vực. Tức là, khu rừng nào sản sinh ra dịch vụ thì trả lại cho rừng vùng đó. Điện bán được nhiều trả nhiều, bán được ít trả ít. Công suất thủy điện lớn được nhiều, ngược lại công suất nhỏ thì được ít.

    Đơn cử như xung quanh lưu vực các nhà máy thủy điện lớn của tỉnh Nghệ An, như: Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, Hủa Na, Khe Bố, các tổ chức, cá nhân cung ứng DVMTR được nhận mức phí 100.000 đến 200.000 đồng/ha rừng. Trong khi các vùng khác không có nhà máy thủy điện thì chỉ nhận được từ 20.000 đến 50.000 đồng/ha.

    Tại các lưu vực Nhà máy thủy điện Hố Hô, người dân các xã: Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh (Hương Khê, Hà Tĩnh) nằm trong lưu vực nhà máy thủy điện có tác dụng tạo nguồn nước, bảo vệ lưu vực nhưng chỉ nhận được mức chi trả từ 15.000 đến 20.000 đồng/ha rừng. Mức giá “bèo bọt” này là do Nhà máy Thủy điện Hố Hô công suất nhỏ trong khi lưu vực rộng.

    Ông Nguyễn Công Tố, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh lý giải: “Nhà nước chưa có quy định điều phối nguồn lực trong thực hiện chính sách để bảo đảm công bằng giữa các loại hình dịch vụ và giữa các lưu vực trong tỉnh với nhau. Với ngành thủy điện, nước được xem là nhiên liệu để sản xuất, ngược lại, bản chất nguồn nước để sản sinh ra điện lại có giá quá rẻ, chỉ 20 đồng/kWh, chưa kể thất thoát... Nghị định số 147/2016/NĐ-CP ngày 2-11-2016 điều chỉnh tăng giá thu DVMTR đối với thủy điện lên 36 đồng/kWh nhưng do giá điện bán ra không tăng nên chưa áp dụng được mức thu DVMTR mới”.

    Ông Nguyễn Công Tố kiến nghị, cần phải trả xứng đáng cho những tổ chức, cá nhân cung ứng DVMTR và bảo vệ, phát triển rừng, thậm chí cần trả cho những người dân vùng hạ du chịu ảnh hưởng, thiệt thòi do thủy điện gây ra. Không thể để lợi ích nằm tập trung vào một ngành, phải chia sẻ nguồn lợi từ rừng cho những hoạt động khác, để bảo đảm “lấy rừng nuôi rừng”, có sự bảo vệ, phát triển, tái tạo nhằm sử dụng các nguồn lợi từ rừng một cách bền vững, công bằng.

    Bên cạnh đó, việc thu phí DVMTR quy định cho 5 loại hình nhưng đến nay cơ bản mới chỉ thu được ba loại hình, đó là: Thủy điện, du lịch sinh thái, nước sạch và đang thí điểm các cơ sở sản xuất sử dụng nước công nghiệp. Hai loại hình dịch vụ hấp thụ cacbon và bãi để nguồn thức ăn, con giống trong nuôi trồng thủy sản chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể.

     Theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP quy định “Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng của những khu rừng đã tạo ra dịch vụ cung ứng”. Theo nguyên tắc này, các ngành, như: Thủy lợi, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và công nghệ cao, nhà máy phát thải… thì rõ ràng vẫn phải trả phí cho rừng nhưng hiện nay những loại hình này vẫn đang “lấy không” từ rừng do chưa có quy định cụ thể. Theo ông Nguyễn Khắc Lâm: Một số tổ chức, doanh nghiệp đang hưởng lợi từ rừng nhưng lại đứng “ngoài hàng rào” chi trả DVMTR do khuôn khổ pháp lý chưa quy định rõ. Trong nghị định đã có quy định thu với hoạt động hấp thụ CO2 nhưng không quy định cụ thể phải thu thế nào, của đối tượng nào, định mức ra sao cho nên không thể áp dụng. Vì vậy, Nhà nước cần đánh giá một cách đầy đủ hơn về các loại hình cung ứng DVMTR, điều chỉnh chính sách, điều tiết việc chi trả phí DVMTR cho các tổ chức, cá nhân. Những hoạt động cung ứng dịch vụ rừng đã quy định cần khẩn trương xác định, quy định cụ thể mức thu; những hoạt động chưa quy định cần nghiên cứu bổ sung, huy động tối đa mọi nguồn lực để phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu một cách bền vững.

    HOÀNG HOA LÊ

    banbientap

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...