Thứ Hai, 08/01/2007, 10:47

    Cần một chiến lược tổng thể

    Trên vùng biển nước ta có hàng nghìn đảo lớn, nhỏ trong đó có hàng vạn dân thường và cán bộ, chiến sĩ LLVT sinh sống. Chúng ta hiện có 12 huyện đảo và hàng chục xã đảo. Hệ thống đảo của nước ta cũng khá đa dạng có tuyến gần bờ, có tuyến trung gian và có tuyến xa bờ. Chính sự đa dang này tạo ra cho chúng ta thế phòng thủ khá vững chắc trong chiến lược quốc phòng - an ninh...

    Có thể nói phần lớn lãnh thổ Việt Nam được bao bọc bởi bờ biển trải dài hơn 3.000km trên ba hướng đông, nam và tây nam. Vị trí chiến lược này tạo ra cho chúng ta nhiều thuận lợi cả về phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần giải quyết. Một trong những vấn đề đó là công tác chăm sóc sức khoẻ, bộ đội và nhân dân trên các vùng biển, đảo.

    Một số khó khăn, bất cập

    Nước ta nằm ở khu vực trung tâm của Biển Đông. Biển Đông giữ vai trò vô cùng quan trọng trên nhiều mặt, đặc biệt là về kinh tế và quốc phòng - an ninh.

    Trên vùng biển nước ta có hàng nghìn đảo lớn, nhỏ trong đó có hàng vạn dân thường và cán bộ, chiến sĩ LLVT sinh sống. Chúng ta hiện có 12 huyện đảo và hàng chục xã đảo. Hệ thống đảo của nước ta cũng khá đa dạng có tuyến gần bờ, có tuyến trung gian và có tuyến xa bờ. Chính sự đa dang này tạo ra cho chúng ta thế phòng thủ khá vững chắc trong chiến lược quốc phòng - an ninh. Thế nhưng, đây lại là những khó khăn, trở ngại không nhỏ cho việc tổ chức, xây dựng hệ thống mạng lưới y tế trên biển, đảo. Trung bình mỗi năm nước ta gặp phải từ 7 đến 8 cơn bão, có năm cao tới 10-12 cơn bão. Tình hình thiên tai tiềm ẩn nhiều yếu tố mất an toàn đe dọa nghiêm trọng tính mạng của người và phương tiện hoạt động trên biển. Khi giông, bão đổ về, mọi hoạt động trên biển bị hạn chế đáng kể.

    Đặc biệt là hoạt động y tế bảo vệ tính mạng cho bộ đội và nhân dân, công tác cứu hộ cứu nạn và vận chuyển người bị thương, bị bệnh từ biển, đảo vào bờ gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều trường hợp đã tử vong do ảnh hưởng của giông bão, không được cứu chữa kịp thời. Mặt khác, do đặc thù về địa lý, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên các vùng biển, đảo chậm phát triển nên đời sống của ngư dân, nhân dân sống trên các đảo còn gặp nhiều khó khăn. Cũng do sự cách biệt về địa lý nên việc học hành, nâng cao dân trí gặp khá nhiều trở ngại.

    Điều này giải thích vì sao tỷ lệ người mù chữ trên các đảo thường lớn hơn so với đất liền. Kết quả khảo sát của các chuyên gia cho thấy: Tỷ lệ mù chữ trong độ từ 15 tuổi trở lên tại đảo Cô Tô khoảng 32%; đảo Thổ Chu khoảng 25%... Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cũng rất thấp. Theo thống kê chưa đầy đủ chỉ tính riêng các đảo tuyến gần bờ số hộ có ti vi mới chỉ khoảng 15 đến 17%... Thực tế trên đặt ra nhiều khó khăn cho công tác thông tin tuyên truyền, đặc biệt là về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

    Thực trạng công tác y tế biển - đảo

    Cơ chế mới mở ra đã thu hút mạnh nguồn nhân lực hướng ra biển để phát triển kinh tế. Tính đến nay, nước ta có hơn 6 triệu người đang làm việc trong các ngành kinh tế biển, trong đó ngành thủy sản chiếm hơn 5 triệu lao động. Một điều mà ai cũng nhận ra là những người hoạt động trên biển, đảo phải sống và làm việc trong những điều kiện môi trường hết sức khó khăn, khắc nghiệt. Rõ nhất là sóng to, gió lớn, tiếng ồn, độ rung, nhiệt độ cao, thiếu nước ngọt, bữa ăn thường xuyên mất cân đối về dinh dưỡng...

    Không chỉ thiếu thốn về điều kiện chăm sóc sức khỏe mà nguy cơ mất an toàn, thảm họa luôn đe dọa. Năm 2006, nước ta đã phải đương đầu với nhiều cơn bão lớn. Thiên tai đã làm bị thương, cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người dân. Thật đáng buồn là hàng chục người dân đã tử vong hoặc tàn phế suốt đời do gặp tai nạn trên biển mà không được cứu chữa kịp thời. Hầu như trong suốt thời gian hoạt động trên biển, đảo người dân bị cô lập với đất liền, mọi phương tiên thông tin liên lạc tuy đã có nhưng vẫn rất hạn chế và hoạt động khó khăn.

    Hàng vạn tàu cá trên biển, bộ đội và nhân dân sống trên các đảo cũng gặp nhiều khó khăn về môi trường, điều kiện sinh hoạt, việc xử lý chất thải sinh hoạt và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Việc tổ chức chăm sóc sức khỏe và giải quyết các vấn đề y tế trên biển, đảo cũng gặp nhiều trở ngại.

    Trong tổng số lực lượng lao động trên biển, lao động của ngành thủy sản chiếm đa số. Thu nhập từ khu vực kinh tế biển cũng đứng vào hàng thứ 2 về thu nhập kinh tế quốc dân. Trong tình hình hiện nay, lao động trong ngành thủy sản cũng đóng vai trò rất lớn vào bảo đảm an ninh trật tự, chủ quyền quốc gia trên biển. Vai trò của họ quan trọng như vậy nhưng sức khoẻ và tính mạng của họ thường xuyên bị đe dọa. Trên thực tế hầu như họ chưa nhận được sự trợ giúp nào về lĩnh vực y tế.

    Việc tổ chức mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe cho ngư dân lao động trên biển còn nhiều khó khăn, bất cập. Không chỉ thiếu trang bị phương tiện y tế, thuốc men mà ngay cả trong tổ chức hiệp đồng cứu chữa, cứu vớt người bị thương, bị bệnh trên biển cũng còn nhiều bất cập.Trong khi đó hầu hết ngư dân là người nghèo khó đi làm thuê cho các chủ tàu khi trở về đất liền giữa 2 chuyến đi biển họ cũng không có điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ y tế trên bờ.

    Đối với LLVT, do điều kiện hoạt động quân sự phức tạp, cường độ cao trong điều kiện xa bờ, nhiều nơi không có dân sinh sống nên vấn đề bảo đảm sức khỏe, tính mạng càng khó khăn, vất vả hơn. Mặc dù trên các tàu, các đảo đã có tổ chức quân y nhưng nhiều trường hợp cấp cứu đặc biệt không đủ điều kiện để can thiệp phẫu thuật nên phải vận chuyển vào bờ, tốn kém cả về kinh tế và thời gian, gây nguy hiểm đến tính mạng. Công tác vận chuyển người bị thương, bị nạn cũng gặp không ít khó khăn do thiếu phương tiện vận chuyển, cấp cứu, đặc biệt là thiếu phương tiện chuyên dụng. Ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới, lực lượng vũ trang đã được trang bị tàu bệnh viện.

    Do chưa có tàu bệnh viện hoặc các phương tiện chuyên dụng nên chúng ta phải sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau, trong đó có cả tàu quân sự để vận chuyển người bị nạn. Mặt khác các phương tiện này hầu hết đã qua nhiều năm sử dụng, trang thiết bị cấp cứu không có hoặc quá thô sơ nên hiệu quả hoạt động thấp. Gần đây, lực lượng tìm kiếm cứu nạn đã có trong trang bị một số tàu cứu nạn nhưng tầm hoạt động còn hạn chế. Mặt khác, nhân viên y tế, nhân viên cứu nạn cũng chưa được huấn luyện đầy đủ về chuyên môn nên hiệu quả cấp cứu người bị nạn chưa cao.

    Tín hiệu đáng mừng và triển vọng

    Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, đảo gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển y tế, bảo đảm việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và lực lượng vũ trang trên biển. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước các bộ, ngành theo lĩnh vực chuyên môn của mình đã triển khai nhiều biện pháp hiệu quả.

    Chương trình quân dân y kết hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và bộ đội trên các đảo. Mỗi năm, các cơ sở y tế do quân đội và ngành y tế triển khai điều trị và xử lý cấp cứu nội, ngoại khoa cho hàng trăm trường hợp. Triển khai từ năm 1991 đến nay, chương trình quân dân y đã có trên khắp các tuyến đảo thuộc lãnh hải Việt . Đặc biệt trên tuyến đảo Đông Bắc, mô hình lồng ghép trạm xá quân y với trạm y tế dân y thành bệnh xá quân - dân y ngày càng chứng tỏ tính hợp lý, hoạt động có nền nếp và hiệu quả cao.

    Ngoài ra, ngay từ năm 1990, Bộ Y tế đã chỉ đạo Đại học Y khoa Hải Phòng thành lập một đơn vị nghiên cứu y học biển. Và, năm 1995 Bộ Y tế đã cho thành lập Trung tâm Y học và Môi trường biển trực thuộc Đại Học Y Hải Phòng. Qua một thời gian hoạt động, Trung tâm đã có những đóng góp đáng kể vào tổ chức đào tạo, bồi dưỡng môn y học biển cho các thuyền viên, sĩ quan và các đối tượng lao động biển khác.

    Năm 2001, trên cơ sở của Trung tâm Y học và Môi trường biển, Bộ Y tế chính thức thành lập Viện Y học biển trực thuộc Bộ Y tế. Đây là một bước tiến quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết về chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của các lao động và nhân dân trên các vùng biển, đảo.

    Đối với nhân dân sinh sống trên các huyện đảo, Đảng và Chính phủ ta chủ trương tiếp tục phát triển mô hình quân dân y kết hợp. Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế một mặt chủ trương tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị y tế cho các bệnh xá quân dân y, mặt khác tăng số lượng cán bộ, nhân viên y tế trên các đảo. Đội ngũ chuyên môn kỹ thuật cũng sẽ được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ đáp ứng kịp thời nhu cầu cứu chữa người bị thương, bị bệnh trên biển, đảo.

    Hiện nay, nước ta đã và đang chủ động hội nhập vào các hoạt động quốc tế, ngành Hàng hải nước ta đã tham gia hầu hết các công ước về biển, trong đó có một số công ước liên quan trực tiếp đến công tác y tế trên biển. Đáng chú ý là công ước về đào tạo và cấp cứu đi ca cho thuyền viên quy định việc cấp chứng chỉ cấp cứu ban đầu trên biển và chứng chỉ y tế cho sĩ quan boong làm nhiệm vụ thay cho bác sĩ của tàu; Công ước an toàn sinh mạng khi đi biển...

    Ngành kinh tế biển của chúng ta ngày càng phát triển và đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, vấn đề xây dựng củng cố quốc phòng - an ninh trên hướng biển cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đất nước. Chính vì lẽ ấy mà nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và bộ đội trên biển đảo ngày càng bức xúc. Thực tế đòi hỏi chúng ta phải hình thành chuyên ngành y tế biển, đảo. Đặc biệt, theo chúng tôi để phục vụ kịp thời chủ trương phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh trên hướng biển chúng ta cần có chiến lược tổng thể phát triển mạng lưới y tế biển, đảo.

    Nhóm phóng viên Quốc phòng – An ninh

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...