Chủ Nhật, 01/04/2018, 21:01

    Chất lượng tăng trưởng bền vững hơn

    QĐND - Kinh tế Việt Nam trong quý I-2018 có nhiều động thái tổng thể tích cực cả về mức độ đạt được, cũng như động lực tiềm năng và chất lượng bền vững hơn, nổi bật là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đồng đều giữa các khu vực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục lưu ý giải quyết tốt các vấn đề, như: Lạm phát, nợ công, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và các hàng rào kỹ thuật từ các thị trường xuất khẩu...

    Động lực và niềm tin khá tích cực

    Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý I-2018 ước tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước (mức tăng cao nhất của quý I trong 10 năm qua) và có sự tăng đồng đều cả ba lĩnh vực (nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,05%; công nghiệp và xây dựng tăng 9,7%; dịch vụ tăng 6,7%). Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng 13,56% và là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây. Điều này cho thấy động lực tăng trưởng ngày càng vững chắc hơn và chuyển đổi cơ cấu kinh tế đang định hình đúng hướng, với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản hiện chiếm tỷ trọng 10,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,26%; khu vực dịch vụ chiếm 43,77%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,63%.

    Cả nước có 26.785 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (mức cao nhất trong vòng 7 năm qua), với tổng vốn đăng ký là 278,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2% về số doanh nghiệp và tăng 2,7% về số vốn đăng ký; gần 7,9 nghìn lượt doanh nghiệp tăng vốn 485,5 nghìn tỷ đồng và có 8.449 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.

    Hoạt động sản xuất ở Nhà máy Thaco Mazda tại tỉnh Quảng Nam. Ảnh: QUANG PHƯƠNG

    Hoạt động sản xuất ở Nhà máy Thaco Mazda tại tỉnh Quảng Nam. Ảnh: QUANG PHƯƠNG

    Động lực và niềm tin của nền kinh tế được cải thiện khá tích cực, thể hiện không chỉ ở số doanh nghiệp đăng ký mới và quay lại hoạt động, mở rộng đầu tư, mà còn cả ở việc giảm 1,4% số doanh nghiệp dừng hoạt động so với cùng kỳ năm trước, cũng như thể hiện ở kết quả và sự lạc quan về triển vọng kinh doanh (với hơn 75,4% số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được TCTK khảo sát cho rằng sản xuất, kinh doanh quý I -2018 ổn định và tốt hơn quý trước; 89,6% đánh giá xu hướng quý II-2018 sẽ ổn định và tốt lên; chỉ có 24,4% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý I-2018 giảm và 9,2% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng quý II-2018 giảm).

    Quy mô thị trường trong nước vẫn tăng khá và tạo động lực bên trong cho phát triển sản xuất, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I-2018 ước đạt 1.048 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,6% (cùng kỳ năm 2017 chỉ tăng 6,4%).

    Sự bùng nổ khách quốc tế đến nước ta được ghi nhận trên các kênh và các nguồn khách, ước tính đạt 4.205,4 nghìn lượt người, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước.

    Tăng trưởng cao không dựa vào tăng vốn đầu tư

    Chất lượng tăng trưởng thể hiện rõ qua tốc độ tăng trưởng GDP khá cao trong quý I-2018 đạt được khi mà tốc độ tăng vốn xã hội và lạm phát không cao, với tổng phương tiện thanh toán tăng 3,23% so với cuối năm 2017; huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,2% (cùng kỳ năm trước tăng 2,43%) và cho vay tín dụng tăng 2,23% (cùng kỳ năm trước tăng 2,81%). Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-6,5%/năm. Tuy nhiên, lãi suất cho vay thông thường 6,8-9%/năm (ngắn hạn) và 9,3-11%/năm (trung và dài hạn) là còn cao so với sức chịu đựng của doanh nghiệp.

    Chất lượng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng có sự cải thiện tích cực, thể hiện ở kết quả tăng vốn thực hiện (đạt 3.880 triệu USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2017) và vốn góp, mua cổ phần (1.890,1 triệu USD, tăng 121,6%), với 618 dự án cấp phép mới (tăng 25,4% so cùng kỳ) dù tổng vốn đăng ký đạt 2.121,6 triệu USD (giảm 27,3%) và 199 lượt dự án tăng vốn đầu tư thêm, đạt 1.789,9 triệu USD (giảm 54,6%). Hơn nữa, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn chiếm 61,1% tổng vốn đăng ký cấp mới (chiếm 75,5% tổng vốn đăng ký và bổ sung).

    Vốn đầu tư tư nhân cao hơn vốn FDI

    Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành đạt 331,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước và quan trọng hơn là vốn tư nhân chiếm chủ yếu (vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 138,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,9% và tăng 16,9%; khu vực FDI chiếm 26,5% và tăng 8,1%).

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 54,31 tỷ USD, tăng 22% (loại trừ yếu tố giá tăng 22,1%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,97 tỷ USD, tăng 18,9%. Nông sản xuất khẩu tiếp tục có nhiều thành công, với xuất khẩu rau quả tăng 35,6%; xoài, nhãn xuất khẩu có giá cao hơn 15-30% so với bán tại thị trường trong nước và tăng lượng xuất sang các thị trường khó tính như Mỹ, Australia. Xuất khẩu thủy sản tăng 11,2%.

    Sự cải thiện tốc độ tăng xuất khẩu được ghi nhận ở tất cả thị trường chính, trong đó xuất khẩu vào Trung Quốc tăng 46% (đạt 9 tỷ USD); vào Hàn Quốc tăng 35,8%; vào EU tăng 19,7% (9,8 tỷ USD và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam); vào ASEAN tăng 13,5%; vào Nhật Bản tăng 12% và vào Hoa Kỳ tăng 11,6% (9,6 tỷ USD). Cả nước xuất siêu 1,3 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,6 tỷ USD.   

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) dù áp lực có tăng gắn với tăng giá một số dịch vụ công, giá xăng dầu, tiền lương và quy mô tín dụng năm 2017... nhưng nhìn chung vẫn được kiểm soát trong phạm vi an toàn, đồ thị động thái vẫn đúng hướng, với mức CPI tháng 3-2018 bắt đầu giảm (0,27%) so với tháng trước, chỉ tăng 0,97% so với tháng 12-2017 và tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý I-2018 tăng 2,82%. Lạm phát cơ bản bình quân tăng 1,34%. Giá thịt lợn và rau củ quả giảm khá mạnh đang góp phần giữ sự bình ổn giá thị trường. Giá vàng trong nước biến động theo khá sát giá vàng thế giới, với chỉ số giá tháng 3 tăng 5,97%; đồng thời chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3 giảm 0,09% so với cùng kỳ năm 2017 cho thấy sự hiệu quả của chính sách tỷ giá trung tâm trong ổn định thị trường ngoại hối.

    Ba nguyên nhân lớn cho thành công và những lưu ý

    Những kết quả tích cực trên đây nhờ 3 nguyên nhân lớn: Thứ  nhất là đà tăng trưởng tốt từ quý IV-2017 và kết quả cải cách môi trường đầu tư trong thời gian trước đó. Thứ hai, những cơ hội mới từ sự phát triển ổn định kinh tế thế giới được khai thác, nhờ đó doanh nghiệp có thêm hợp đồng xuất khẩu lớn, với giá cả có sự cải thiện, nhất là gạo, rau, củ quả... Thứ ba là sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và sự quyết liệt trong chỉ đạo quản lý Nhà nước ngay từ ngày đầu, tháng đầu và quý đầu năm mới, với phương châm hành động Chính phủ năm 2018 là “Năm kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”, thể hiện tập trung trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1-1-2018 của Chính phủ và Công điện số 240/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21-2-2018...

    Năm 2018, Việt Nam có thêm nhiều thuận lợi trong phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm là 6,7%, thậm chí có thể đạt được 6,8%. Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, dệt may, giày dép, điện thoại, linh kiện, sản phẩm điện tử… nhờ nền kinh tế thế giới đã khởi sắc hơn, nhu cầu tiêu thụ của hầu hết các thị trường tiếp tục tăng. Môi trường kinh doanh và hội nhập tiếp tục được cải thiện.

    Tuy nhiên, những tháng tới, Việt Nam vẫn tiếp tục đối diện với nhiều áp lực mới về lạm phát, nợ công và các hàng rào kỹ thuật, cũng như tìm kiếm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và thị trường nội địa… Các bộ, ngành, địa phương cần chủ động cập nhật và dự báo tốt những diễn biến kinh tế trong nước, khu vực và trên thế giới, bám sát các mục tiêu, kế hoạch và kịch bản tăng CPI năm 2018 ở mức 3,55%, thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 17%; chủ động đối phó với các biến động tiền tệ quốc tế và tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp lớn. Tăng cường kỷ luật tài chính; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế, quản lý chặt kê khai và hoàn thuế giá trị gia tăng, thu hồi nợ đọng thuế và chủ động chống thất thu qua chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại. Cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triệt để tiết kiệm chi ngân sách Nhà nước; kiểm soát tốt lộ trình và mặt trái điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý và giá dịch vụ công; thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội; giảm thiểu nợ đọng thuế và bảo hiểm xã hội...

    TS NGUYỄN MINH PHONG

    TS NGUYỄN MINH PHONG

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...