Thứ Tư, 06/12/2006, 21:12

    Cơ hội mới cho làng nghề sơn mài, điêu khắc

    Thông tin Hiệp hội Sơn mài - Điêu khắc tỉnh Bình Dương thành lập đang được dư luận rất quan tâm, nhất là những người gắn bó với nghề sơn mài, điêu khắc...

    No image available
    Làm tranh sơn mài
    Thông tin Hiệp hội Sơn mài - Điêu khắc tỉnh Bình Dương thành lập đang được dư luận rất quan tâm, nhất là những người gắn bó với nghề sơn mài, điêu khắc. Đây cũng có thể nói là bước chuẩn bị rất quan trọng để củng cố và phát triển ngành nghề truyền thống và giúp sản phẩm này thâm nhập vào thị trường thế giới.

    Ngành nghề sơn mài - điêu khắc Bình Dương có bề dày lịch sử lâu đời. Chính vì vậy mà Bình Dương đã và đang sở hữu được nguồn tinh hoa rất dồi dào và rất quan trọng trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Phát huy được khiếu thẩm mỹ, óc sáng tạo sẽ giúp cho những người sống bằng nghề này hái ra tiền. Vấn đề gây lo lắng cho các nhà sản xuất trong thời điểm này là nhiều hộ sản xuất vẫn còn hoạt động riêng lẻ. Những hộ gia đình này tồn tại là do còn giữ và phát huy được ưu thế riêng của mình trong từng sản phẩm. Nhưng thế mạnh đó vẫn chỉ ở hộ nhỏ lẻ, chưa được phát huy tối đa, nhiều người vẫn chưa hưởng thụ được bởi cách làm theo kiểu gia truyền. Dù nghề sơn mài - điêu khắc không sôi động như thời hoàng kim, nhưng phải nhìn nhận rằng nghề này đang phát triển mạnh. Cái khó là khâu tiêu thụ. Chính vì tiêu thụ khó mà những người làm nghề này thu nhập không nhiều, hệ quả cuối cùng là họ phải bỏ nghề.

    Việt Nam vừa chính thức gia nhập WTO, sơn mài - điêu khắc có một lợi thế cạnh tranh cao, thị trường tiêu thụ lớn, người làm sơn mài đang kỳ vọng về những kế hoạch mà hiệp hội đề ra, nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho các làng nghề, giúp cho làng nghề tích cực và chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

    ĐỖ TRỌNG NGHĨA (đường Ngô Quyền, thị trấn Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương)



    Người thầy giáo mang quân hàm xanh

    Đó là đại úy Nguyễn Xuân Quế giáo viên chủ nhiệm khoa cơ điện Trường dạy nghề số 8 (Bộ Quốc phòng) TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Khi được đứng trong hàng ngũ quân đội anh đã quyết tâm phấn đấu để trở thành người giáo viên dạy nghề đem những kiến thức nghề nghiệp truyền thụ cho học sinh. Những năm đầu mới thành lập, khoa cơ điện chỉ có hơn 100 học sinh, đến nay đã có hơn 1000 em theo học, trong đó có nhiều học viên là bộ đội xuất ngũ, con em thương binh liệt sĩ, con em người dân tộc thiểu số. Khi phòng học của khoa còn thiếu thốn, anh Quế chủ động đề nghị nhà trường đầu tư thiết bị chuyên dùng để phục vụ giảng dạy, nâng cấp sửa chữa 2 phòng mạch máy và mạch điện. Anh luôn gắn kết học với hành tạo điều kiện cho học viên đi sâu vào kiến thức chuyên môn, nhờ vậy có em đã suy nghĩ tìm tòi tạo ra những mô hình trong môn học, có sáng kiến đã được cục Kỹ thuật công nhận là mô hình tiên tiến trong bộ môn.

    Anh Quế luôn suy nghĩ phải cố gắng tu dưỡng đạo đức người thầy, nâng cao kiến thức nghề nghiệp để truyền đạt cho học viên những kĩ năng, kĩ thuật đáp ứng nhu cầu đòi hỏi thực tế cuộc sống. Trong những năm qua anh đã đạt nhiều danh hiệu: Giáo viên dạy giỏi toàn quân, giáo viên đạt danh hiệu “Nguyễn Văn Trỗi”, bản thân anh đang theo học lớp đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành. Trong giảng dạy anh luôn thực hiện tốt tiêu chí: “Dạy người gắn liền với dạy nghề”.

    Nói về người thầy, người đồng nghiệp của mình, đại tá Phạm Xuân Hòa-Bí thư Đảng ủy-Quyền hiệu trưởng nhà trường đã nhận xét: “Thầy Nguyễn Xuân Quế là một giáo viên dạy giỏi của nhà trường. Luôn có nhiều tâm huyết với nghề nghiệp, đồng chí luôn được các thầy cô và học sinh trong trường quý mến vì đức độ và trình độ giảng dạy tốt”.

    VŨ ĐỨC VINH



    Khuyến khích các dự án phát triển ngành nghề

    Năm 2006, tỉnh Bắc Kạn đã được Bộ Công nghiệp quyết định phê duyệt giao kế hoạch thực hiện hai dự án gồm: Dự án đào tạo nghề mây tre đan xuất khẩu do HTX Phúc Lộc (nay là Công ty TNHH Phúc Lộc) thực hiện tại xã Như Cố, huyện Chợ Mới với tổng kinh phí đào tạo nghề 166 triệu đồng, đến nay công ty đã hoàn thành được 2 lớp đào tạo mặt hàng chổi chít với 100 học viên, 2 lớp đào tạo mây tre cho 100 học viên đồng thời tạo việc làm tại chỗ cho các học viên.

    Dự án tiếp theo là dự án đào tạo nghề sản xuất cốt nứa làm hàng sơn mài xuất khẩu của Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Kạn. Mục tiêu của dự án đào tạo sản xuất cốt nứa làm hàng sơn mài xuất khẩu tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 100 lao động địa phương. Theo tính toán dự án có tổng kinh phí gần 300 triệu đồng, quỹ khuyến công quốc gia đã hỗ trợ 60 triệu đồng, vốn của công ty hơn 200 triệu đồng. Để dự án đạt được tính khả thi cao Công ty sẽ tiến hành tổ chức mở lớp đào tạo nghề tại những vùng có sẵn nguyên liệu, cho đến nay công ty đã chuẩn bị được những bước cần thiết như thuê giáo viên, chuẩn bị máy móc thiết bị, nguyên liệu, tuyển học viên.

    Các dự án mới bắt đầu hình thành, còn nhiều khó khăn, rất cần sự ủng hộ, tạo điều kiện của chính quyền địa phương để các bước tiếp theo của dự án tiến hành thuận lợi.

    NGUYỄN ĐÌNH TRUNG (Khoa Báo chí, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn)



    Đội trời” chờ xe buýt

    Mấy năm gần đây, xe buýt trở thành phương tiện giao thông công cộng được nhiều người sử dụng, giải quyết tốt nhất tình trạng ùn tắc giao thông trong thành phố. Từ những tiện lợi đó, Tổng công ty vận tải Hà Nội đã có nhiều biện pháp để thu hút hành khách đi xe như: tăng lượt xe chạy trong ngày, nâng cao chất lượng xe và thái độ phục vụ…

    Niềm vui đối với người đi xe không thật trọn vẹn khi hiện tượng nhà chờ xe buýt thiếu và xuống cấp nghiêm trọng. Trên tuyến đường từ ga Hà Nội đến bến xe Thường Tín (tỉnh Hà Tây) có xe buýt số 6 chạy là chủ yếu bên cạnh có xe số 8 và xe số 12. Trên một đoạn đường dài như vậy mà điểm chờ xe buýt đếm được trên đầu ngón tay, trong khi đây là một tuyến đường quan trọng và có rất nhiều người đi xe buýt, nhiều đến độ xe luôn trong tình trạng “lèn người”. Ngoài tuyến đường này còn có các tuyến đường khác như, tuyến xe số 39 (Hoàng Quốc Việt – bến xe Nước Ngầm), tuyến xe số 2 (Ba La – Bác Cổ),… cũng rất cần xây dựng thêm nhà chờ xe buýt để phục vụ hành khách. Những hôm trời nắng to, mưa lớn, mấy chục người chờ xe buýt phải dùng đủ mọi cách để che tránh sự khắc nghiệt của thời tiết. Chờ được “góp phần giảm bớt tai nạn giao thông” mà lại phải chịu “cháy mặt”, “ướt đầu” như vậy, nghĩ mà thấy tội!

    Đề nghị Sở Giao thông-Công chính Hà Nội cần xây dựng ngay các điểm chờ để giảm vất vả cho hành khách đi xe.

    Nguyễn Tình

    Đâu rồi những hàng cây chắn sóng hộ đê?

    Trong mùa mưa bão, hiện tượng úng lụt, sạt lở rất nhiều nên phải có những biện pháp để hạn chế tối đa những thiệt hại về người và của do bão lũ gây ra cho nhân dân những vùng bị ảnh hưởng. Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng đã hết sức quan tâm về công tác phòng, chống bão lũ, thường xuyên chăm lo duy trì củng cố đê kè, hỗ trợ cả về kinh phí, công nghệ nhằm duy tu, bảo dưỡng đê kè một cách có hệ thống, ưu tiên những địa phương, những tuyến đê xung yếu. Nhưng nghiêm túc nhìn lại kết quả mà chúng ta dành cho phòng, chống bão lũ, nhất là các tuyến đê xung yếu, không khỏi giật mình vì tình trạng đê kè bị xâm hại, nhiều địa phương vi phạm Luật đê điều một cách nghiêm trọng, và còn rất ít những hàng cây chắn sóng, hộ đê.

    Thực tế là ở rất nhiều tuyến đê trên các địa phương ngày một thiếu đi những hàng cây, rừng cây chắn sóng, ngăn mặn, những con đê. Nếu không có những hàng cây chắn sóng thì cái gì sẽ hỗ trợ đê kè trước sức tàn phá của giặc nước. Trước thực tế đó công tác bảo vệ đê kè phục vụ cho đời sống dân sinh phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc, không thể thờ ơ trước diễn biến khắc nghiệt của thiên nhiên. Để giữ yên cuộc sống thanh bình và điều đó có thành sự thật hay không chính là nhờ công tác bảo vệ đê kè hàng năm của từng địa phương trước mùa mưa bão.

    Chúng ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với công nghệ hiện đại, tuy nhiên công tác phòng, chống bão lũ, thì đê kè vẫn cần phải có hàng cây chắn sóng, nếu không làm tốt công việc này một cách nghiêm túc thì người dân chưa thật yên tâm khi mùa mưa lũ đã liền kề.

    LẠI VĂN QUYỀN (Viện Vệ sinh phòng dịch Quân đội)



    Cầu Phú Cường bao giờ mới xong?

    Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng đường Huỳnh Văn Cù và xây dựng mới cầu Phú Cường ở thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương được khởi công vào ngày 17-11-2004. Thời gian thi công công trình theo hợp đồng ban đầu là 21 tháng, nếu đúng tiến độ lẽ ra công trình đã hoàn thành vào ngày 17-8-2006; đồng thời ngưng thu phí qua phà cầu Phú Cường. Vậy mà đến nay cầu vẫn chưa hoàn thành, còn phà vẫn tiếp tục thu phí... Đã hơn 3 tháng trễ hạn mà công trình này hiện vẫn còn rất ngổn ngang. Nguyên nhân chậm tiến độ là do có điều chỉnh thiết kế cầu Phú Cường trong quá trình thi công, chủ đầu tư chưa thật sự quan tâm đến tiến độ công trình, chưa bố trí đủ nhân lực, thiết bị, phương tiện đáp ứng yêu cầu và quy mô công trình, thi công mang tính chất cầm chừng.

    Việc thi công công trình trọng điểm của tỉnh chậm không chỉ gây khó khăn trong việc đi lại của nhân dân mà còn làm ảnh hưởng đến sản xuất - kinh doanh đối với nhiều doanh nghiệp trên địa bàn. Rất mong cơ quan chức năng sớm có biện pháp khắc phục tình trạng trên để tạo điều kiện cho người dân dễ dàng hơn trong việc đi lại, thông thương hàng hóa, ổn định cuộc sống.

    NGUYỄN MẠNH THƯỜNG (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương)



    Cần giữ cho nghề gốm Khơ-me không bị mai một

    Đầu thế kỷ 20, ở sóc Nam Quy, ấp An Thuận, xã Châu Lăng, huyện Chi Tôn, tỉnh An Giang, nơi có đông đồng bào Khơ-me sinh sống đã có nghề làm gốm nổi tiếng. Ghe các nơi về ăn hàng đậu chật bến sông Tri Tôn kéo dài hai bên cầu làng Me. Đồ gốm không chỉ bán ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mà còn cạnh tranh với gốm Công-pông Chơ-năng, nơi sản xuất gốm nổi tiếng của Cam-pu-chia. Người dân ở xóm Nam Quy làm gốm theo hộ gia đình. Loại đất làm gốm là đất sét xám pha nhiều cát mịn, được lấy từ núi về giã nhỏ trên một tấm gỗ để loại bỏ đá, sỏi lẫn vào. Sau đó nhồi đất với nước theo tỉ lệ nhất định, đủ để đất quánh và dẻo. Điều đặc biệt là cách làm của người Nam Quy không dùng bàn xoay như cách làm gốm của các làng nghề khác mà để sản phẩm trên miếng ván, miệng khạp lu nước rồi đi vòng quanh sản phẩm để đập, vuốt, trang trí cho sản phẩm. Dụng cụ tạo hình cũng rất đơn giản, chỉ lấy một cây gỗ mỏng có bề bản rộng nửa tấc và một hòn ống hình quả cam có núm để cầm. Với bàn tay tài hoa của người thợ, hàng trăm chiếc cà ràng, nồi đất giống hệt nhau, không thể lẫn với các sản phẩm khác. Sau đó, người ta đem phơi nắng rồi để chất đống sản phẩm trước sân nhà, lấy củi khô, rơm châm lửa đốt hướng gió. Với cách làm thô sơ như vậy, hàng loạt sản phẩm ra đời có màu gốm đỏ au. Thế nhưng thời hoàng kim gốm Nam Quy cách đây đã mấy chục năm. Cái thời nhà nhà làm gốm, người người làm gốm, có bát ăn bát để đã là dĩ vãng. Hiện nay, nhiều gia đình có truyền thống 3-4 đời làm nghề hầu như đã bỏ. Cả sóc chỉ còn lại ít hộ bám lấy nghề, chỉ đủ tạm sống qua ngày và khó có cơ hội mở rộng sản xuất, khuếch trương làng nghề vì thiếu vốn và thị trường không ổn định. Trung bình mỗi ngày các hộ này chỉ làm khoảng 8 cái nồi đất, cho thu lợi từ 15.000 đồng đến 30.000 đồng. Hàng làm ra ít nhưng nhiều khi cũng ế ẩm.

    Phải làm gì để làng gốm của cái sóc nhỏ này hoạt động trở lại? Ngoài việc đảm bảo đời sống dân cư còn là vấn đề bảo tồn được một nghề độc đáo, nổi tiếng hàng trăm năm không bị mai một và có nguy cơ biến mất. Đề nghị các cấp, các ngành quan tâm và có chính sách, dự án đầu tư để khôi phục và phát triển nghề trong thời gian sớm nhất.

    TRẦN THANH HÀ (huyện Châu Thành, tỉnh An Giang)


    Mong có thêm nhiều điểm Bưu điện-Văn hóa xã

    Sự ra đời và phát triển của hệ thống điểm Bưu điện-Văn hóa xã đã góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế –xã hội các địa phương, đưa miền núi, nông thôn gần hơn với đồng bằng, thành phố. Nhờ có hoạt động của các điểm Bưu điện-Văn hóa xã người dân mọi miền đã được hưởng thụ các dịch vụ tiện ích cập nhật thông tin cũng như liên lạc kịp thời đến hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước chỉ trong thời gian ngắn. Nhờ có hệ thống các điểm Bưu điện–Văn hóa mà các hoạt động kinh tế, văn hóa ở đâu cũng đều được nâng lên. Tôi được biết đến nay cả nước đã có 7.858 điểm Bưu điện-Văn hóa xã đi vào hoạt động, vui mừng hơn là các điểm Bưu điện-Văn hóa này đã có mặt ở 1.644 xã đặc biệt khó khăn của cả nước và hầu hết đều hoạt động đạt hiệu quả tốt, góp phần quan trọng đem lại nhiều đổi thay tích cực cho các địa phương khó khăn. Có đến 850 điểm Bưu điện-Văn hóa xã đạt doanh thu từ 5 triệu đồng/tháng trở lên, 1.821 điểm có doanh thu từ 2 đến 5 triệu đồng/tháng, nhất là những địa phương đã có dịch vụ Internet hoạt động thì hiệu quả đem lại cao hơn rất nhiều.

    Tuy nhiên, do một số nguyên nhân như điều kiện đường sá, địa hình quá khó khăn, kinh phí lắp đặt lớn… nên hiện vẫn còn không ít xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới chưa có điểm Bưu điện-Văn hóa xã. Mong rằng trong thời gian tới, ngành Bưu chính-Viễn thông sẽ tiếp tục tăng cường đầu tư kinh phí, xây dựng thêm nhiều điểm Bưu điện-Văn hóa xã ở các vùng còn khó khăn đó để nhân dân cả nước đều được thụ hưởng những tác dụng thiết thực của dịch vụ này.

    Vũ Văn Quán

    (Hội CCB huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...