Đến Sơn Hải- một trong những xã miền núi nghèo nhất của huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) với dân số gần 4.000 người, trong đó 85% là người dân tộc Nùng- tận mắt chứng kiến mới hiểu được những gian khó mà thầy và trò nơi đây đang gánh chịu. Càng cảm phục hơn tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề của họ…
Sơn Hải là một trong những xã miền núi nghèo nhất của huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) với dân số gần 4.000 người, trong đó 85% là người dân tộc Nùng. Tỉ lệ hộ nghèo trong xã chiếm hơn 62%. Cuộc sống mưu sinh của người dân chủ yếu làm nông nghiệp, nhưng cũng rất khó khăn trong việc canh tác, lúa cấy xuống có khi bị ngập úng chỉ vì một trận mưa.
Đến Sơn Hải, tận mắt chứng kiến mới hiểu được những gian khó mà thầy và trò nơi đây đang gánh chịu. Càng cảm phục hơn tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề của họ…
Chênh vênh đường vào xã
![]() |
| Những chiếc áo phao cứu sinh luôn là “bùa hộ mệnh” của học sinh xã Sơn Hải mỗi khi đến trường |
Từ Hà Nội, để đến được Sơn Hải, chúng tôi theo Quốc lộ 1A, Quốc lộ 31 và dừng chân ở thị trấn Chũ. Gian nan bắt đầu từ con đường đất dài 20km từ thị trấn Chũ đến xã nghèo này.
Chiếc xe du lịch 35 chỗ ì ạch, lắc lư, lật đật, đánh đu theo từng “ổ trâu, ổ bò” trên con đường ngoằn ngoèo. Đến chân đèo Cạn - ranh giới giữa xã Sơn Hải và thị trấn Chũ thì chiếc xe phải dừng hẳn. Đèo Cạn gập ghềnh, với những tảng đá lớn chắn ngang con đường hẹp, dốc đứng. Nếu xe tiếp tục đi, leo lên đèo, đầu xe sẽ vỡ, không khéo chiếc xe sẽ bị “treo” chênh vênh giữa các mỏm đá.
Động viên mãi tài xế mới chịu đi tiếp với sự chỉ dẫn đường của 3 thanh niên, trong khi tất cả chúng tôi đều xuống đi bộ qua đèo. Thật may mắn cho chúng tôi là chiếc xe qua được đèo an toàn.
Khó khăn chưa dừng ở đó. Càng đi, con đường càng hun hút, hiểm trở. Nhiều đoạn, số thanh niên trong đoàn phải xuống khảo sát đường trước rồi chỉ dẫn cho xe “bò” theo. Ì ạch gần hai giờ, chúng tôi mới đến được điểm trung tâm Trường tiểu học Sơn Hải. Nhìn chiếc xe du lịch đậu ở sân, nhiều thầy cô giáo ngạc nhiên thắc mắc: “Xe này sao có thể vào được đến đây nhỉ?”. Quả thật, để vào được đến vùng lòng hồ Cấm Sơn (xã Sơn Hải), với chúng tôi đã là một “kỳ tích”!
Theo các thầy cô giáo ở trường, cuộc sống nơi đây vô cùng vất vả do giao thông đi lại khó khăn. Các thầy cô bám trường, bám lớp phải thay nhau đi mua thức ăn mỗi tuần một lần, rau thì xin hoặc mua của bà con trong xã. Chỉ cần một trận mưa to, người dân ở đây hoàn toàn bị cô lập với bên ngoài, nguồn sống chủ yếu dựa vào cá, tôm bắt ở hồ Cấm Sơn.
Cái chữ - cái tình của thầy trò vùng Sơn Hải
Vì là vùng lòng hồ sông nước nên việc đi học của học sinh và giáo viên nơi đây rất khó khăn. Trường tiểu học Sơn Hải phải bố trí thành 5 điểm ở các đảo và bán đảo khác nhau trong vùng lòng hồ. Mỗi điểm trường có khoảng 100 học sinh và 7 đến 10 giáo viên thường trú.
Sơn Hải nghèo nhưng hiếu học. Hiểm nguy rình rập nhưng ngày ngày những bóng dáng bé nhỏ, liêu xiêu cùng với con thuyền lá bé xíu vẫn đều đặn cập bến đến trường. Nhiều năm liền xã Sơn Hải không có học sinh bỏ học. Tỉ lệ học sinh khá, giỏi luôn chiếm từ 10 đến 15%.
Để học cái chữ, hằng ngày, các em học sinh phải tự chèo thuyền vượt qua lòng hồ Cấm Sơn, chỗ nước sâu nhất là 80 mét còn chiều dài thì phải tính bằng quãng thời gian các em chèo thuyền. 6 giờ đi học, 13 giờ mới về đến nhà, trong cặp lúc nào cũng có nắm cơm dự trữ.
Khổ nhất là vào những ngày đông, nhiệt độ xuống thấp 5-6 độ, các em vẫn chèo thuyền đi học (4, 5 em một thuyền). Một em chèo, còn lại thay nhau tát nước. Đến được lớp học, nhiều hôm quần áo ướt lướt thướt, chân trần, tím tái vì lạnh. Cũng nhiều hôm, do sương mù, các em chèo thuyền đi học mà không định hướng được, loanh quanh giữa lòng hồ đến chiều lại quay về nhà. Còn những lúc gió to, cứ chèo thuyền được một đoạn lại bị lật nhào. Những ngày ấy, thậm chí ngay cả khi bố mẹ các em đưa đi, thuyền cũng bị lật. Rất may, trẻ ở đây biết bơi lại quen dạn dày sương gió từ nhỏ nên chưa xảy ra những chuyện đáng tiếc.
Cô giáo trẻ Hoàng Thị Thơm mới về công tác tại Trường tiểu học Sơn Hải được hai năm. Cô được phân công dạy học ở nơi khó khăn nhất của xã, đó là thôn Đồng Mậm (chưa có điện, chưa có nước sạch sinh hoạt). Để đi từ trung tâm xã tới thôn chỉ có cách duy nhất là chèo thuyền với khoảng thời gian từ 3 đến 4 giờ. Muốn đến lớp, “bài học” đầu tiên của cô Thơm là học cách chèo thuyền. Năm nay, có thuyền máy nên việc đi lại của cô cũng đỡ vất vả hơn. Cô Thơm ở lại trường, đến cuối tuần mới về nhà cách đó 70km. Những hôm sóng to gió lớn, thuyền máy cũng đành “bó tay”. Cô Thơm kể:
- Nhiều hôm trời mưa, để vượt hơn 20km đường đất, tôi phải mất hai giờ và bị ngã đến 5, 6 lần. Chiếc xe máy to hơn người nên tôi thường phải nhờ một thầy giáo khác đi kèm ra đến đường cái, nếu ngã thì còn có người giúp nâng xe lên. Có lần tôi về đến nhà, người lấm đầy bùn đất. Bố mẹ xót con, nhiều hôm mưa gió, bố tôi lại đưa đi hoặc đón về.
Khó khăn, vất vả là thế, nhưng thật đáng quý, đáng trân trọng ở các thầy, cô giáo là tình yêu thương với học trò và không một lời than vãn.
Thầy Giáp Văn Nghệ, Hiệu trưởng Trường tiểu học Sơn Hải cho biết:
- Cả trường có 32 cán bộ, giáo viên, hầu hết đều ở xa, cuối tuần mới về nhà, hôm nào mưa thì phải ở lại trường. Mỗi giáo viên chúng tôi đều xác định phải bám trường, bám lớp, động viên nhau khắc phục khó khăn trong cuộc sống. Học trò quý thầy cô như cha mẹ. Các em thường xuyên tâm sự, chia sẻ với thầy cô những chuyện vui, buồn trong gia đình, cuộc sống. Điều đó càng thôi thúc chúng tôi phải có trách nhiệm với các em.
Chính sự tận tụy của những giáo viên như thế mà học sinh ở đây càng hăng say tới trường. Trong số đó đã có nhiều em thành đạt, trở thành giáo viên và hiện là đồng nghiệp với thầy cô giáo cũ...
Ở nước ta còn bao nhiêu trường khốn khó như Sơn Hải? Tôi trộm nghĩ không biết lãnh đạo tỉnh Bắc Giang có biết địa phương còn có những xã khó khăn đến thế.
Bài và ảnh: MINH CHÂU
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận