Làng Mỹ Giang, xã Đắc Ýa, huyện Mang Yang, Gia Lai nằm dưới chân điểm cao 95. Trải qua 22 năm (1986-2008) làng Mỹ Yang được đánh giá là phát triển với tốc độ lùi!...
Làng Mỹ Giang, xã Đắc Ýa, huyện Mang Yang, Gia Lai nằm dưới chân điểm cao 95. Trải qua 22 năm (1986-2008) làng Mỹ Yang được đánh giá là phát triển với tốc độ lùi! Theo chương trình của Chính phủ đi “xây dựng vùng kinh tế mới” đến năm 1989 làng có hơn 100 hộ, sau 20 năm làng chỉ còn 76 hộ, đàn bò hơn 30 con, đàn lợn đếm trên đầu ngón tay, gần 70ha đất của làng chỉ trồng được hai loại cây bời lời và mỳ (sắn). Thế nhưng đất đai đã bạc màu! Nhiều năm nay cả làng phải đi mướn đất để sản xuất, làm thuê kiếm bữa…
Đất đã phụ lòng người
![]() |
|
Một vùng đất của huyện Mang Yang. Ảnh: Internet |
Hiện nay trong làng có 76 hộ thì chỉ có vài hộ đủ ăn, có tới 11 hộ đặc biệt khó khăn và có 6 hộ không có đất sản xuất, bà con chủ yếu trông chờ vào từng ngày công lao động từ việc làm thuê. Việc thuê mướn đất sản xuất bà con chỉ trông chờ ở làng Alao, xã Lơ Pang. Trung bình mỗi héc-ta đi thuê mỗi năm phải trả hơn 2 triệu đồng, nếu chịu khó chăm bón, trừ chi phí và may mắn mỳ được giá thu về được 50% tổng thu, tương đương từ 4 đến 5 triệu đồng một héc-ta. Khá nhất trong làng là anh Ninh Xuân Hùng, anh có 2ha đất trồng bời lời và 3ha thuê, anh ước tính thu về 15 triệu đồng chia cho 6 miệng ăn trong một năm. Còn như bà Nguyễn Thị Hanh không có đất cũng chẳng thuê mượn được ở đâu, quanh năm hai mẹ con đi làm thuê kiếm bữa từng ngày. Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi đồng chí Trần Đức Tịnh, trưởng thôn cho biết: Hằng năm cả thôn vay các ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển nông nghiệp-nông thôn hơn 2 tỷ đồng chủ yếu đầu tư cho cây mỳ mà sản lượng cũng không nhích lên là bao! Cả làng chỉ có hơn 200ha, thì có hơn 130ha đất dốc đứng, cằn cỗi không có khả năng sản xuất. Còn lại là đất sản xuất và đất ở chỉ đạt gần 70ha chia cho 76 hộ, 324 khẩu.
Hành trình tìm bữa, phập phồng nỗi lo
Tôi bỗng rùng mình khi anh Tịnh cho biết trong một năm bà con có 6 tháng chăm sóc và thu hoạch mỳ, còn lại 6 tháng nhàn rỗi chủ yếu đi làm thuê, rà phế liệu. Nhiều câu chuyện đau lòng xảy ra với những người làm công việc này. Chị Lê Thị Hoa, vợ của anh Thông tâm sự: “Mỗi sáng chồng đi làm là chị như ngồi trên đống lửa, chỉ mong thời gian trôi thật nhanh đợi giờ chồng về”. Đã nhiều lần ban chấp hành thôn họp khuyến cáo bà con không nên làm nghề đó nhưng thực chất không còn con đường nào khác! Chị em phụ nữ thì đi thành phố tìm việc, làm cỏ, hái cà cho vùng lân cận, còn đàn ông, thanh niên phải trên con đường hành trình đùa với tử thần, thật nguy hiểm!
Sẽ làm gì để sống?
Nhiều người dân than với chúng tôi rằng: Không biết 2 đến 3 năm nữa bà con sẽ làm gì để sống? Đất đai đã bạc màu, không có đất để thuê, diện tích bị thu hẹp không biết dân sẽ đi đâu, về đâu? Thực tế trong nhiều năm qua có hàng chục hộ không còn khả năng chịu đựng đã chuyển về quê hoặc chuyển sang vùng lân cận sinh sống. Nhiều gia đình trong tâm trạng tiến thoái lưỡng nan đi cũng dở, mà về cũng chẳng xong, lấy gì bán được để đi vùng đất mới?
Diện tích đất sản xuất của làng có nhiều bà con thắc mắc, anh Ninh Xuân Hùng cho biết: Hồi mới vào làng được chia đất từ cổng làng (gốc cây mít), sau một thời gian sản xuất không hiệu quả, một số bà con bỏ về, Công ty nguyên liệu giấy Mang Yang đã san ủi và trồng bạch đàn. Việc này đã được bà con phản ánh qua nhiều cuộc họp thế nhưng vẫn chưa có câu trả lời chính đáng từ phía cơ quan chức năng. Đã đến lúc “trời không còn sinh cỏ” cho 324 nhân khẩu của làng, rồi đây họ sẽ đi đâu, về đâu khi đất đai không còn cho họ đeo bám? Và đây cũng là bài học trong công tác di dân ở cơ sở!
NGUYỄN VĂN HẠNH
(Trường đại học Văn hóa-Nghệ thuật Quân đội)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận