Hơn 12 năm nghiên cứu, phát triển kỹ thuật y học hạt nhân và ứng dụng vào chẩn đoán, điều trị bệnh, Viện Y học phóng xạ và u bướu Quân đội đã có những thành công nổi bật, làm chủ các trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, điều trị khỏi nhiều căn bệnh tuyến giáp như basedow, ung thư tuyến giáp, ung thư di căn vào xương; các bệnh u mao mạch ở trẻ em, bệnh hiểm nghèo, hiếm gặp...
![]() |
Tham gia xã hội hóa điều trị y tế
Thạc sĩ y khoa Nguyễn Xuân Hòa, giảng viên Trường Đại học Y Thái Nguyên, kiêm bác sĩ điều trị khoa Y học hạt nhân thuộc Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên (đang học tập chuyển giao kỹ thuật y học hạt nhân tại Viện Y học phóng xạ và u bướu Quân đội), cho biết: Nhu cầu điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh tuyến giáp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và khu vực Việt Bắc rất lớn. Được sự đồng ý của Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng), Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã cử hai đoàn cán bộ, bác sĩ đến học tập, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật y học hạt nhân tại đây. Trên cơ sở kỹ thuật được chuyển giao, Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã ứng dụng thành công, điều trị khỏi cho hàng trăm bệnh nhân mắc bệnh tuyến giáp. Các bác sĩ, kỹ thuật viên của bệnh viện đang tiếp tục học tập, chuyển giao kỹ thuật điều trị u mao mạch ở trẻ em, ung thư di căn vào xương nhằm ứng dụng điều trị, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân trên địa bàn.
Bệnh nhân Nguyễn Thị Dung, 50 tuổi trú tại Đào Xá (Phú Bình, Thái Nguyên) mắc căn bệnh tuyến giáp, đã điều trị ở nhiều bệnh viện địa phương và tuyến Trung ương, nhưng không khỏi. Chị uống nhiều thuốc kháng giáp, nên sút cân, tâm lý bi quan. Khi vào khám, điều trị tại Viện Y học phóng xạ và u bướu Quân đội, chị được chẩn đoán đúng bệnh, dùng dược chất phóng xạ I-131 điều trị, vừa khỏi bệnh và còn tăng cân. Chị hồ hởi: Được như vậy là nhờ tinh thần thoải mái do được các thầy thuốc, nhân viên của viện điều trị, chăm sóc ân cần, chu đáo. Chị Phạm Thị Đào, 28 tuổi, quê ở phường Bắc Lý, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình cũng bị bệnh bướu cổ, đã đi điều trị ở Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Quảng Bình, thuê bác sĩ riêng để mổ. Sau 5 tháng, cổ chị lại sưng to và tiếp tục đến khám, điều trị ở các bệnh viện khác, nhưng bệnh vẫn diễn biến phức tạp. Năm 2008, chị đến khám, điều trị ở Viện Y học phóng xạ và u bướu Quân đội và mau khỏi. Đó là số ít trong gần 13.300 bệnh nhân mắc bệnh basedow đã được viện điều trị hiệu quả bằng kỹ thuật y học hạt nhân, sử dụng dược chất phóng xạ I-131 trong hơn 12 năm qua. Tỉ lệ điều trị bệnh nhân khỏi bệnh rất cao, sau xạ trị lần thứ nhất đạt 56,3%, sau lần thứ hai đạt 78,9% và sau lần thứ ba đạt 99,2%.
Điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật bằng dược chất phóng xạ I-131 là thành công nổi bật của viện, nhất là khi nhiều bệnh nhân đến viện đã bị di căn vào xương hoặc phổi. Điển hình, bệnh nhân Phạm Thị Ngoan, 53 tuổi, quê Yên Mô, Ninh Bình bị ung thư tuyến giáp di căn vào xương sống, bị liệt hoàn toàn, được Bệnh viện K Trung ương giới thiệu đến điều trị. Sau lần xạ trị đầu tiên, bệnh tình của chị tiến triển khả quan. Bệnh nhân Nguyễn Thị Hiền, 39 tuổi, quê ở Gia Lộc (Hải Dương) bị ung thư tuyến giáp, di căn vào hai lá phổi, vào viện trong tình trạng khó thở, sức khỏe yếu, hạch nổi nhiều. Sau 5 đợt điều trị từ năm 2004 đến nay, sức khỏe bệnh nhân ổn định. Bằng việc phát triển, ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân, viện đã điều trị khỏi hơn 400 ca bệnh ung thư tuyến giáp sau phẫu thuật.
Phát triển kỹ thuật, làm chủ trang thiết bị hiện đại
Hầu hết bệnh nhân đến Viện Y học phóng xạ và u bướu Quân đội đều đã qua điều trị ở nhiều bệnh viện khác nhau. Để tạo được niềm tin, là địa chỉ tin cậy của người bệnh, cán bộ, thầy thuốc của viện luôn nỗ lực nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật điều trị mới, làm chủ trang bị y tế hiện đại. Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, TS Nguyễn Hữu Nghĩa, Viện trưởng cho biết: Đơn vị là một trong số ít các bệnh viện trong và ngoài quân đội nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đắp tấm áp phóng xạ P-32 điều trị u mao mạch ở trẻ em và điều trị sẹo lồi, ezema. Viện đã cử cán bộ đi học tập, tiếp nhận chuyển giao công nghệ điều trị ung thư và các bệnh u bướu tại các bệnh viện lớn; từ tháng 12-2006 đến nay đã phẫu thuật ung thư tuyến giáp, bướu nhân cho hàng trăm ca, bắt đầu áp dụng phương pháp điều trị bằng hóa trị từ tháng 3-2009. Quân đội được Nhà nước giao nhiệm vụ làm nòng cốt ứng phó sự cố hạt nhân quốc gia; Viện được Bộ Quốc phòng giao trách nhiệm đầu ngành về cấp cứu, điều trị bệnh nhân nhiễm xạ và tai nạn phóng xạ; đã khám và điều trị ổn định cho hàng chục bệnh nhân nghi nhiễm phóng xạ sau vụ thất thoát nguồn phóng xạ của Viện Công nghệ xạ hiếm (Bộ Khoa học-Công nghệ).
Đạt được những kết quả nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật điều trị mới, cán bộ, thầy thuốc của Viện được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, khai thác hiệu quả trang thiết bị y tế hiện đại. Hiện nay, 90% cán bộ chuyên môn của viện có trình độ sau đại học, đủ năng lực nghiên cứu các đề tài cấp Nhà nước, Bộ Quốc phòng và ngành. Viện tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn và thực hiện dự án đầu tư trang bị máy xạ trị gia tốc phục vụ nghiên cứu, điều trị các bệnh lý về phóng xạ và nâng cao trình độ ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân vào chẩn đoán, điều trị. Các hệ thống máy gia tốc xạ trị, máy CT-SIM trang bị tới đây sẽ giúp Viện nâng cao năng lực chẩn đoán sớm tổn thương phóng xạ; nghiên cứu đánh giá hiệu quả chất lượng thuốc điều trị phóng xạ, phát triển toàn diện kỹ thuật y học hạt nhân vào điều trị… Nhiều cán bộ của viện đã được tạo điều kiện học tập, đào tạo, bồi dưỡng ở các cơ sở y tế trong và ngoài quân đội, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ thuật hạt nhân, an toàn phóng xạ với Tổ chức Năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA) và ở nước ngoài. Là cơ sở đầu ngành của Bộ Quốc phòng về nghiên cứu, điều trị các bệnh phóng xạ, cấp cứu nhiễm xạ, ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân vào chẩn đoán, điều trị bệnh hiệu quả, viện cần được bổ sung trang thiết bị, chuyển giao công nghệ mới, mở rộng quy mô điều trị, phối hợp với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo y học hạt nhân trong và ngoài quân đội, mở rộng hợp tác quốc tế. Kết quả nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật y học hạt nhân hiện đại vào điều trị của viện không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bộ đội, nhân dân mà còn góp phần khẳng định sự sáng tạo, uy tín của đội ngũ thầy thuốc quân đội.
Bài và ảnh: ĐÌNH XUÂN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận