Ông khẳng định 300m2 đất “của ông” là hợp pháp, có trích lục bản đồ, có xác nhận văn tự mua bán của chính quyền và “không có tranh chấp, không nằm trong qui hoạch, đã sử dụng ổn định từ năm 1994”...
Ông khẳng định 300m2 đất “của ông” là hợp pháp, có trích lục bản đồ, có xác nhận văn tự mua bán của chính quyền và “không có tranh chấp, không nằm trong qui hoạch, đã sử dụng ổn định từ năm 1994”. Theo ông, việc chính quyền không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông là vi phạm Điều 50 Luật Đất đai.
Để chứng minh, ông trình ra văn tự mua bán có xác nhận của chính quyền, bản sao trích lục bản đồ. Các giấy tờ hợp pháp này chỉ đúng với diện tích 59,5m2 (thửa 21, tờ 11, bản đồ địa chính thị trấn). Còn phần diện tích tới 240,5m2, trong 300m2 “của ông”, thì chỉ có: biên bản kiểm tra ngày 30-11-1994 của Đoàn kiểm tra nhà đất UBND thị trấn, phát hiện, lập biên bản, yêu cầu gia đình ông phải tự tháo dỡ công trình trên khu đất này; biên bản ngày 15-1-2003 của UBND thị trấn về việc gia đình ông vi phạm trật tự xây dựng, yêu cầu tự dỡ bỏ; Quyết định ngày 16-1-2003 xử phạt vi phạm hành chính 200.000đ đối với gia đình ông; Quyết định 347/QĐ-UBND của UBND phường ngày 30-11-2006 về việc cưỡng chế thi hành quyết định đối với cá nhân vi phạm hành chính (là ông) buộc tháo dỡ toàn bộ công trình lều lán xây dựng trái phép; thông báo 593/TB-UBND của UBND phường ngày 26-12-2006 về việc thực hiện quyết định cưỡng chế...
Điều 50 Luật Đất đai quy định: đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15-10-1993 được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp; phù hợp với qui hoạch thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Đất “của ông” chỉ có xác nhận về việc lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất công... làm sao cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng?
TRẦN HỒ BẮC
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận