Sáng sớm, phòng khám, chữa bệnh vô sinh ở Trung tâm Công nghệ Phôi (Học viện Quân y) đã kín chỗ. Những cặp vợ chồng-vì nhiều nguyên nhân-chưa có con tìm đến đây để nghe các thầy thuốc tư vấn, khám và điều trị. Đến nay đã có 600 cháu bé ra đời bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản do trung tâm thực hiện...
Sáng sớm, phòng khám, chữa bệnh vô sinh ở Trung tâm Công nghệ Phôi (Học viện Quân y) đã kín chỗ. Những cặp vợ chồng-vì nhiều nguyên nhân-chưa có con tìm đến đây để nghe các thầy thuốc tư vấn, khám và điều trị. Đến nay đã có 600 cháu bé ra đời bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản do trung tâm thực hiện.
Bộ Y tế và Ủy ban dân số-Kế hoạch hóa gia đình-trẻ em đã tiến hành khảo sát, điều tra cơ bản ở 5 tỉnh, thành phố đặc thù cho các vùng miền trong cả nước, là Thái Nguyên, Thái Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ, Gia Lai, thì cứ 10 nghìn cặp vợ chồng trẻ có tới 6% mắc bệnh vô sinh. Giáo sư, tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân, đại tá Trần Văn Hanh, Giám đốc Trung tâm công nghệ phôi (Học viện Quân y) cho biết: Tỷ lệ vô sinh ở các cặp vợ chồng thì chồng chiếm khoảng 40%, đó là do tinh trùng yếu, tinh trùng dị dạng, thể trạng yếu dẫn đến không đủ số lượng tinh trùng, tắc ống dẫn tinh… 40% thuộc về phía vợ, do viêm tắc vòi trứng, không phóng noãn, buồng trứng kém, viêm tử cung… 10% do cả vợ và chồng, còn 10% không rõ vì nguyên nhân gì.
![]() |
|
Đại tá, giáo sư Trần Văn Hanh, giám đốc trung tâm, đang tư vấn cho bệnh nhân vô sinh. |
Từ ngày Trung tâm bước vào hoạt động chính thức đã tư vấn cho hàng chục nghìn cặp vợ chồng vô sinh. Riêng năm 2005 đã khám, tư vấn và điều trị cho 5.400 người, làm hơn 4.500 xét nghiệm, 500 lần thực hiện kỹ thuật như chọc hút mào tinh, lưu trữ tinh trùng, lưu trữ phôi, thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm đều an toàn tuyệt đối.
Quá trình chữa bệnh vô sinh là một quá trình hết sức phức tạp, đòi hỏi ở bệnh nhân và thầy thuốc lòng kiên nhẫn, tỉ mỉ và cẩn thận. Người mắc bệnh phải qua xét nghiệm nội tiết tố, xét nghiệm tinh dịch đồ và hàng chục xét nghiệm phức tạp khác mới tìm ra đúng bệnh để có biện pháp giải quyết hợp lý, hiệu quả. Lý do không có con do người chồng sẽ được điều trị bằng các loại thuốc tây, thuốc đông y nhằm tăng số lượng và chất lượng tinh trùng. Nếu các loại thuốc này không có công hiệu lúc đó sẽ được các thầy thuốc hỗ trợ sinh sản bằng các phương pháp khoa học, hoặc thụ tinh trong ống nghiệm. Theo Giáo sư Trần Văn Hanh: “Phương pháp nuôi cấy tinh tử thành tinh trùng để tạo phôi trong ống nghiệm đã thắp lên nhiều tia hy vọng cho các cặp vợ chồng mà cả hai người đều mắc bệnh vô sinh”.
Tôi gặp vợ chồng anh Trần Văn Đấp và chị Đinh Thị Chí ở tận Cà Mau ra đây chữa bệnh vô sinh. Anh cho biết: “Vợ chồng tôi lấy nhau 18 năm rồi mà chưa có con. Đã đi “vái tứ phương” nhưng đều không có kết quả. Cách đây sáu tháng, được biết trung tâm chữa bệnh vô sinh có kết quả, vợ chồng tôi lặn lội ra đây với hy vọng được làm cha, làm mẹ. Các thầy thuốc bộ đội đang tiến hành các phương pháp điều trị giúp vợ chồng tôi có con. Kết quả bước đầu thật là mỹ mãn, vợ chồng tôi đang hồi hộp theo dõi “giọt máu” của mình lớn dần lên từng ngày”. Thiếu tá chuyên nghiệp, y sinh Trần Thị Đường kể: “Có nhiều cặp vợ chồng muộn con, đã tính đến chuyện ly hôn. Gia đình anh Nguyễn Văn D, quê ở Đông Anh, Hà Nội đã chuẩn bị cưới vợ mới cho anh, vì vợ anh mắc bệnh tắc ống dẫn trứng, may mà anh chị kịp thời sang trung tâm điều trị. Đến nay họ đã có hai cháu sinh đôi là Quốc Anh và Thục Anh đều bụ bẫm, khỏe mạnh. Mỗi lần cho các cháu đến thăm chúng tôi, anh D thường nói: “Các thầy thuốc ở trung tâm đã hàn gắn hạnh phúc cho vợ chồng em và cho bao cặp vợ chồng vô sinh khác có được niềm vui làm cha, làm mẹ”.
Trung tâm chỉ có 21 cán bộ, trong đó có 11 giảng viên tham gia công tác đào tạo. Năm học 2005-2006, các thầy giáo ở trung tâm đã giảng cho 19 lớp với tổng số 5.381 tiết (trung bình mỗi giảng viên phải lên lớp 800 tiếët/năm). Theo các thầy giáo ở trung tâm: “Công nghệ phôi là bộ môn hình thái học nên học lý thuyết phải được chứng minh bằng hình ảnh. Cách học đó làm cho học viên dễ nhớ, dễ hình dung, kiến thức sâu hơn”.
Tuy bận “trăm công ngàn việc” nhưng công tác nghiên cứu khoa học được trung tâm hết sức coi trọng, vì: “chỉ có nghiên cứu khoa học mới nâng cao trình độ, chất lượng huấn luyện đào tạo và khám, chữa bệnh”.
Năm 2006, trung tâm đã nghiệm thu 3 đề tài nghiên cứu cấp Bộ, trong đó có đề tài “Nghiên cứu sức khỏe sinh sản của bộ đội ra-đa và đề xuất các biện pháp khắc phục”…
Xem cuốn kỷ yếu bằng ảnh hằng năm của trung tâm, tôi bắt gặp nhiều ánh mắt hân hoan, nhiều nụ cười rạng rỡ của các cặp vợ chồng hiếm muộn nay đã được làm cha, làm mẹ. Hình ảnh đọng lại trong tôi nhiều nhất là 600 cháu bé bụ bẫm với nụ cười trẻ thơ trên môi, có cháu ở Lào Cai, có cháu ở Lai Châu, có cháu ở tận Cà Mau… đều khỏe mạnh, “hay ăn chóng lớn” như lời một nữ xét nghiệm viên nói với tôi. Gặp cặp song sinh trong ống nghiệm đầu tiên của trung tâm là cháu Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Thị Bích Hiếu, đã 4 tuổi, trông thật kháu khỉnh, hồn nhiên cùng bố mẹ đến thăm các thầy thuốc ở trung tâm, tôi càng hiểu hơn những việc làm, thành công của cán bộ, y, bác sĩ, nhân viên nơi đây, ý nghĩa biết nhường nào!
Bài, ảnh: VŨ ĐẠT và THU ĐƯỜNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận