Thứ Bảy, 12/05/2007, 20:04

    Một lối thoát “cơn khát” trên cao nguyên đá

    Giải pháp đơn giản của tiến sĩ khoa học Vũ Cao Minh ban đầu đã đem lại hiệu quả nhiều mặt trong việc giải quyết cơn khát trên vùng cao nguyên đá Hà Giang...

    Giải pháp đơn giản mà đề tài “Điều tra nghiên cứu các nguồn nước cacxtơ khu vực Nà Phạ (xã Mậu Duệ - huyện Yên Minh), lựa chọn, thiết kế mô hình khai thác” của tiến sĩ khoa học Vũ Cao Minh công tác tại Viện địa chất ban đầu đã đem lại hiệu quả nhiều mặt trong việc giải quyết cơn khát trên vùng cao nguyên đá Hà Giang. Trong tương lai, liệu nó có trở thành mô hình mẫu về an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế ở các vùng khát trên toàn quốc?...

    Tại sao lại không “giam” nguồn nước suối để dùng dần mà cứ phải chịu cảnh thiếu nước mỗi mùa khô đến?” - Câu hỏi đơn giản trên đã dẫn đến ý tưởng thực hiện đề tài “Điều tra nghiên cứu các nguồn nước cacxtơ khu vực Nà Phạ (xã Mậu Duệ - huyện Yên Minh), lựa chọn, thiết kế mô hình khai thác của TSKH Vũ Cao Minh. Sở dĩ chọn khu vực Nà Phạ làm nơi khảo sát nghiên cứu là vì đặc điểm thổ nhưỡng, địa chất ở đây khá điển hình cho cao nguyên đá Hà Giang với những dãy núi trọc, trơ đá, hệ động thực vật nguyên sinh gần như bị hủy diệt. Mùa khô không có nước sử dụng. Mùa mưa nước chảy mạnh gây xói mòn, lũ quét…

    Theo phân tích của TSKH Vũ Cao Minh, nguồn nước Nà Phạ có các điểm xuất lộ nước, khởi phát từ độ cao 1.150m đến 1.200m chảy về và hợp lưu tại bản Nà Phạ, dưới độ cao 900m thành suối Nà Phạ. Suối đổ vào hang cacxtơ chảy ngầm trong núi khoảng 1km và thoát ra ở sườn thấp, rồi đổ vào sông Nhiệm. Nguồn nước thường xuyên có lưu lượng 2m3/s. Lưu vực suối Nà Phạ trước khi chảy vào hang rộng gần 1,2km2, mặt đệm thấm nước là đất đá ít thấm nước, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Tổng lượng nước ước tính khoảng 1 triệu m3/năm, chất lượng nước có thành phần hóa lý bảo đảm cho nhu cầu sinh hoạt. Các hàm lượng nitrat, nitrit, amoniăc, nguyên tố vi lượng đều rất nhỏ so với tiêu chuẩn cho phép… Từ những dữ kiện trên có thể đi đến kết luận: Với trữ lượng nước gần 1 triệu m3/năm. Việc xây dựng hồ đập chứa nước ngay tại nguồn, có thể khai thác hết công suất nước, cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 2 đến 3 vạn người ở mức bình quân mỗi ngày 150lít nước/người/ngày...

    Thực ra, việc tích trữ nước mưa vào hồ chứa là việc làm kinh điển như hồ Suối Hai, Suối Ba, Trị An, Sông Đà. Tuy nhiên, những công trình này thi công với chi phí rất lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, trình độ và thiết bị đòi hỏi ở mức cao và phần lớn những hồ chứa ấy lại nằm ở vị trí thấp nhất của một tổ hợp nhiều quả núi nên gần như không hỗ trợ cho việc chống hạn, chống cháy rừng và tưới tiêu trên đồi cao. Đối với công nghệ hồ treo, cách làm mới là xây nhiều hồ nhỏ trên núi, đơn giản và tiết kiệm. Phương pháp là chọn những vị trí thuận lợi, những chỗ thắt của các con suối để xây hồ. Thấy rõ những thế mạnh của công nghệ hồ treo, tỉnh Hà Giang đã triển khai thăm dò và xây dựng thử nghiệm “hồ treo” Xà Phìn tại bản Xà Phìn B, xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn, với dung tích khoảng 3.000m3, bằng các giải pháp kỹ thuật đáy và thành hồ được gia cố, bảo đảm không bị đục hoặc thẩm thấu. Việc thử nghiệm hồ Xà Phìn thành công đã tạo động lực cho các nhà khoa học tiếp tục đề xuất xây dựng công trình hồ treo Tả Lủng tại xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc.

    Trong chuyến thăm Hà Giang đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thị sát các huyện vùng cao núi đá Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Yên Minh, trong đó có việc xem xét cấp nước sinh hoạt cho người dân. Thủ tướng đã công nhận kết quả thành công của hai hồ treo thử nghiệm ở hai xã Tả Lủng và Xà Phìn và đồng ý cho xây dựng 30 hồ chứa nước bằng giải pháp công nghệ “hồ treo” tại các huyện này với tổng kinh phí khoảng 90 tỷ đồng, bằng ngân sách nhà nước. Hy vọng, thành công từ Đồng Văn sẽ mở ra một hướng mới trong việc giải quyết những “cơn khát” ở các vùng hạn hán trên toàn quốc.

    HOÀNG BÌNH

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...