Làng tôi nằm ở ven đô ngoại thành Hải Phòng. Nơi đó từ lâu đã nổi tiếng với nghề trồng hoa. Nhiều thế hệ người dân quê tôi đã quen với nghề trồng hoa. Những con người thật thà, chân chất quanh năm chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, vẫn ngày ngày cần mẫn chăm sóc vườn hoa nghìn sắc muôn hương của mình để làm phong phú thêm cho vẻ đẹp cuộc sống con người...
![]() |
| Niềm vui của người trồng hoa (ảnh: Phú Sơn) |
Làng tôi nằm ở ven đô ngoại thành Hải Phòng. Nơi đó từ lâu đã nổi tiếng với nghề trồng hoa. Nhiều thế hệ người dân quê tôi đã quen với nghề trồng hoa. Những con người thật thà, chân chất quanh năm chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, vẫn ngày ngày cần mẫn chăm sóc vườn hoa nghìn sắc muôn hương của mình để làm phong phú thêm cho vẻ đẹp cuộc sống con người.
Không biết nghề trồng hoa có từ bao giờ, chỉ biết rằng khi tôi lớn lên đã thấy ở quê tôi nhà nào cũng trồng hoa. Những năm trước đây người dân quê tôi chủ yếu trồng những loại hoa truyền thống là hoa hồng, hoa cúc, hoa dơn, hoa thược dược… Đất nước đổi mới, cuộc sống của người dân đã khá lên, nhu cầu thưởng thức và chơi hoa của người dân cũng đã khác xưa. Bây giờ người dân quê tôi ngoài trồng các loại hoa truyền thống còn trồng thêm các loại hoa cao cấp của nước ngoài như hoa Ly, hồng Pháp, dơn Pháp, đồng tiền Hà Lan… So với trồng hoa truyền thống thì trồng hoa cao cấp đòi hỏi người trồng hoa phải có kinh nghiệm, có tay nghề cao, chi phí cho giống cao, mất nhiều công chăm sóc. Nhưng nếu biết cách trồng, cách chăm sóc và gặp thời tiết thuận thì sẽ cho thu nhập lớn.
Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên đán khách ở mọi nơi lại đổ về làng tôi để được chiêm ngưỡng, ngắm nhìn hương sắc làng hoa ngày Tết rực rỡ sắc màu, ngạt ngào hương thơm rồi chọn mua những bông hoa, cây hoa đẹp nhất đem về tặng bạn bè người thân và để chơi trong ngày Tết. Còn nhớ ngày ở nhà tôi vẫn thường phụ giúp bố mẹ trồng và chăm sóc vườn hoa hay vào những ngày lễ Tết cùng mẹ đem hoa ra chợ bán.
Dường như những công việc đó đã quá quen thuộc với tôi, gắn liền với cả tuổi thơ tôi và nơi đó được mọi người biết đến, quen gọi với tên trìu mến thân thương: “Làng hoa Đằng Hải”.
Giờ đây đã là người lính đang công tác xa nhà. Mỗi khi Tết đến xuân về lòng tôi lại nhớ về quê hương nơi đã sinh thành và nuôi dưỡng tôi, nhớ những vườn hoa đua nhau khoe sắc trong nắng xuân và nhớ cái không khí đông vui, nhộn nhịp của làng hoa ngày Tết. Ở nơi đó có bố mẹ và những người dân quê tôi đã cả đời gắn bó với nghề trồng hoa để hương sắc của hoa đến được với mỗi gia đình khi Tết đến, xuân về!
ĐINH CÔNG HƯNG (Hòm thư: 6KE, 1019 Cam Ranh, Khánh Hòa)
Hội người mù tỉnh Bến Tre có 108 chi hội với 1.086 hội viên, trong đó có 76 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Để phát triển phong trào hội, nâng cao đời sống hội viên, ngoài các phong trào văn hóa-xã hội, công tác tạo việc làm, hỗ trợ vốn, tích cực giúp hội viên xóa đói giảm nghèo luôn được cấp Hội quan tâm với nhiều giải pháp cho kết quả tốt.
Do phần đông hội viên đều trong độ tuổi lao động nên nhu cầu học nghề, làm việc, tạo thu nhập luôn được hội viên quan tâm. Tuy nhiên, ngoài sự cố gắng chăm chỉ, hội viên Hội người mù tỉnh Bến Tre rất cần được sự quan tâm, hỗ trợ của các ngành cấp trên và chính quyền, đoàn thể địa phương. Thấu hiểu mong muốn đó, thông qua kênh vay vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm của Trung ương Hội người mù Việt Nam, đến nay Hội người mù tỉnh Bến Tre đã có 59 dự án với tổng số tiền gần 2,7 tỷ đồng được triển khai hỗ trợ cho các hội viên. Từ nguồn vốn thiết thực lại được phổ biến, hướng dẫn kinh nghiệm sản xuất đã giúp 1.039 lượt hội viên được giải quyết việc làm ổn định, với nhiều dự án được triển khai đạt hiệu quả như sản xuất hàng thủ công, chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh nhỏ… Kết quả, 100% hội viên vay vốn đều sử dụng có hiệu quả, điển hình như các hội viên ở huyện Ba Tri, thị xã Bến Tre, huyện Giồng Trôm nơi Hội đã xây dựng được 5 tổ sản xuất hoạt động hằng năm cho doanh thu hàng trăm triệu đồng. Song song với giải quyết việc làm, công tác chăm sóc, thăm hỏi Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây nhà tình nghĩa, sửa chữa nhà, cấp thẻ Bảo hiểm y tế, sổ tiết kiệm, mở lớp học chữ nổi… cũng là hoạt động thường xuyên của các cấp Hội người mù Bến Tre. Qua đó, tỷ lệ hội viên nghèo đã giảm, số hội viên biết chữ nổi ngày càng nhiều.
NGUYỄN THU THỦY (Hội phụ nữ tỉnh Bến Tre)
“Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới” là đề án được Ủy ban Dân tộc thực hiện từ năm 2006 đến 2007, với mục tiêu tạo nếp sống trong đồng bào dân tộc thiểu số và vùng biên giới gắn với ý thức tìm hiểu và hành động theo pháp luật. Đối tượng mà đề án hướng tới là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trong phạm vi cả nước trong khuôn khổ cho phép và tiến hành chọn điểm các địa phương đại diện cho các vùng. Bằng những hình thức cụ thể như: Giải thích hướng dẫn pháp luật, tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý miễn phí, hòa giải cơ sở, cung cấp tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số… nội dung phổ biến giáo dục pháp luật tập trung giải thích về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai, Luật Biên giới Quốc gia, Luật Phòng, chống ma túy…
Mục đích của đề án này là mong muốn trình độ hiểu biết về pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng bào vùng biên giới sẽ được nâng lên về hệ thống pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân… Xây dựng phương pháp, hình thức và hệ thống nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc điểm văn hóa, dân trí, tâm lý, điều kiện kinh tế của đồng bào. Xây dựng đội ngũ cán bộ, cộng tác viên làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi… Mong rằng trong thời gian không xa, người dân tộc thiểu số sẽ có một nền tảng pháp luật vững chắc để từ đó phấn đấu trở thành những công dân tốt, góp phần xây dựng xã hội ngày càng đi lên.
TRẦN CÔNG THÀNH (xã Mường Xén, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận