Khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với bảo đảm an ninh lương thực, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nông dân. Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận, chiến lược lớn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp; phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; thích ứng chủ động, linh hoạt với biến đổi khí hậu; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống.
Đảng lãnh đạo ngành tập trung cơ cấu lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển chuỗi ngành hàng bền vững, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách cũng được coi là khâu đột phá, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch để thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân tham gia phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.

Ảnh minh họa: chinhphu.vn
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, thiên tai khốc liệt và biến động thị trường toàn cầu, nông nghiệp vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định: Sản lượng lúa cả nước năm 2024 ước đạt 43,5 triệu tấn; tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, thủy sản và sản phẩm gỗ hàng đầu thế giới. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2024 đạt hơn 62 tỷ USD, tăng hơn 18% so với năm 2023, mức cao nhất từ trước đến nay.
Không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, ngành nông nghiệp còn góp phần quan trọng vào xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mạnh, từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng 4% năm 2024; trên 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn được đầu tư đồng bộ; diện mạo nông thôn đổi thay rõ nét; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao.
Nhất là năm 2025, trước diễn biến phức tạp của tình hình thiên tai, tác động của xung đột địa chính trị trong khu vực và trên thế giới; đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu; yêu cầu của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường, toàn ngành vẫn hoàn thành và vượt 9/9 chỉ tiêu Chính phủ giao; tốc độ tăng trưởng GDP ngành đạt khoảng 3,7-3,9%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt mốc 70 tỷ USD; xuất siêu hơn 20 tỷ USD, tiếp tục đóng góp quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Những kết quả đó là minh chứng sinh động cho đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong suốt quá trình đổi mới và nhiệm kỳ qua, nhất là sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy phát triển nông nghiệp.
Cụ thể, nông nghiệp Việt Nam từng bước thoát khỏi mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng diện tích, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ, chuyển sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững. Cùng với đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt cho tăng trưởng. Cơ giới hóa, tự động hóa, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số được đẩy mạnh từ đồng ruộng đến nhà máy, từ sản xuất đến chế biến, quản trị và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao được hình thành; các chuỗi giá trị khép kín, minh bạch, hiệu quả từng bước được xây dựng; truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính.
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường cũng được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 54/166 quốc gia về phát triển bền vững, tăng 34 bậc so với năm 2016, đứng thứ hai trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một kết quả phản ánh rõ nét những nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, trong đó nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi, phát triển hợp tác xã kiểu mới, thúc đẩy kinh tế nông thôn, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sinh thái đang tạo ra những chuyển biến tích cực. Nông nghiệp không còn chỉ là “sản xuất cái mình có” mà từng bước chuyển sang “sản xuất cái thị trường cần”, lấy hiệu quả kinh tế, giá trị gia tăng và phát triển bền vững làm thước đo.
Kiến tạo nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh
Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành nông nghiệp và môi trường (1945-2025), Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định ngành nông nghiệp và môi trường Việt Nam luôn đồng hành với sự phát triển của đất nước, trở thành trụ cột của nền kinh tế, nền tảng của sinh kế và nay đã trở thành nhân tố quan trọng trong công cuộc phát triển, chuyển mình của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng nhiều lần khẳng định nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế, nhưng phải được hiện đại hóa, số hóa; nông thôn phải phát triển toàn diện; nông dân phải thực sự là chủ thể của quá trình phát triển. Phát triển nông nghiệp không chỉ để bảo đảm an ninh lương thực mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nâng cao chất lượng sống của nhân dân.
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng cũng xác định, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng phát triển các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyên canh hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị tăng cao; tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia, địa phương. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và khai thác, phát huy hiệu quả cao nhất trên đơn vị diện tích sử dụng đất... Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp đạt bình quân trên 3,5%; tốc độ tăng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt bình quân trên 5%.
Để thực hiện được điều đó, đặc biệt, nhất là trong bối cảnh bước vào kỷ nguyên số hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang kinh tế nông nghiệp hiện đại, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt. Đặc biệt, cần tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu; tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nông dân-doanh nghiệp-nhà khoa học-Nhà nước theo mô hình chuỗi giá trị và liên kết vùng sản xuất, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia, qua đó gia tăng giá trị, sức cạnh tranh và phát triển bền vững đối với các sản phẩm nông nghiệp đã và đang là thế mạnh của Việt Nam, tiếp tục khẳng định vai trò “bệ đỡ”, “điểm tựa” vững chắc của nền kinh tế quốc dân, tạo nền tảng vững chắc để ngành nông nghiệp và môi trường bước vào nhiệm kỳ mới với khát vọng phát triển nhanh, bền vững hơn.
(còn nữa)
Nhiệm kỳ Đại hội XIII đánh dấu bước chuyển quan trọng của giáo dục nghề nghiệp (GDNN) khi hệ thống được sắp xếp tinh gọn, chất lượng đào tạo từng bước nâng cao, gắn kết với doanh nghiệp ngày càng thực chất, qua đó cải thiện rõ rệt khả năng có việc làm của người học và chất lượng cung ứng lao động cho thị trường. Những kết quả này đang tạo nền tảng để GDNN đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực kỹ năng cao cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc, Đảng ta xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là một trong 3 đột phá chiến lược, là “chìa khóa vàng” để mở cửa tương lai, đưa Việt Nam phát triển giàu mạnh, thịnh vượng.
Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, ngành công nghiệp quốc phòng (CNQP) đã nỗ lực bứt phá, quyết liệt triển khai toàn diện các mặt công tác, hoàn thành nhiều nhiệm vụ lớn, phức tạp và nghiên cứu, sản xuất thành công nhiều chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) hiện đại, có ý nghĩa chiến lược, góp phần quan trọng đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Từ việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên đã tạo nền tảng chính trị-tổ chức vững chắc, góp phần quan trọng vào thành công của công tác xây dựng Đảng.
Một trong những thành tựu nổi bật trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là an sinh xã hội (ASXH) ngày càng được bảo đảm tốt hơn, phúc lợi xã hội ngày càng được cải thiện. Điều này góp phần quan trọng bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững, đồng thời củng cố, tăng cường niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước.
Thực hiện 3 đột phá chiến lược trong đó có đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong những điểm nhấn quan trọng trong triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Để tạo động lực cho phát triển đất nước giai đoạn tới, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh 3 đột phá chiến lược, đặc biệt là việc hoàn thiện đồng bộ, đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, tập trung cho hạ tầng giao thông đa phương thức.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rất rõ yêu cầu: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả”. Trong nhiệm kỳ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội đã quyết liệt hoàn thiện thể chế nhằm chuyển hướng từ tư duy quản lý sang quản trị quốc gia, kiến tạo phát triển và xây dựng bộ máy hành chính nhà nước đồng hành với người dân, doanh nghiệp. Nhờ vậy, kết quả phát triển kinh tế-xã hội của nước ta đạt được khá toàn diện, tăng trưởng kinh tế luôn nằm trong tốp cao ở khu vực và thế giới...
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp và trong nước vẫn hiện hữu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức, nhưng với nhận thức, tư duy mới, những quyết sách chiến lược mới cùng sự nỗ lực, quyết tâm cao, Đảng đã lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực.
Phát huy vai trò vốn có, công tác đối ngoại đa phương trong nhiệm kỳ 2021-2026 của Đảng đã chứng kiến những bước chuyển mình và sức bật mạnh mẽ, tiếp tục góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII, kinh tế Việt Nam tăng trưởng thuộc tốp cao hàng đầu thế giới, vững vàng vượt qua đại dịch Covid-19 cùng các thách thức, diễn biến khó lường của tình hình thế giới. Với những định hướng phát triển đúng đắn thể hiện trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, chúng ta có niềm tin rằng, nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng cao hơn nữa trong giai đoạn tới.
Cùng với đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Đảng ta đã có nhận thức sâu sắc về vai trò của văn hóa và con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới. Vì vậy, diện mạo và thành tựu nổi bật của đất nước trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội những năm qua luôn có dấu ấn, đóng góp đậm nét của văn hóa.
LTS: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiệm kỳ Đại hội XIII đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trên các lĩnh vực, tạo nền tảng vững chắc để đất nước bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV với niềm tin vững vàng và khát vọng phát triển mạnh mẽ. Chào mừng Đại hội XIV của Đảng, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu loạt bài “Niềm tin vững, khát vọng lớn”, làm rõ những thành tựu nổi bật của nhiệm kỳ qua và các định hướng lớn cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận