Cái tên Sinh Núi thì chỉ có ông Kim (bị mù cả 2 mắt từ năm 10 tuổi) - là em vợ - thì mới rõ ngọn nguồn vì ông Sinh Núi tha hương cầu thực rồi “dạt” về làng tôi, được bà bác tôi gả con gái và cho ở rể. Dân làng thì có người ác khẩu bảo rằng, mặt nó gồ ghề, lại mồ côi cha mẹ từ khi chập chững tập đi thì làm gì có giấy khai sinh, nên gọi là thằng Núi.
Cái tên Sinh Núi thì chỉ có ông Kim (bị mù cả 2 mắt từ năm 10 tuổi) - là em vợ - thì mới rõ ngọn nguồn vì ông Sinh Núi tha hương cầu thực rồi “dạt” về làng tôi, được bà bác tôi gả con gái và cho ở rể.
Dân làng thì có người ác khẩu bảo rằng, mặt nó gồ ghề, lại mồ côi cha mẹ từ khi chập chững tập đi thì làm gì có giấy khai sinh, nên gọi là thằng Núi.
Vẻ mặt tuy có hơi xấu xí một tý, nhưng tài câu, bắt cá thì cả Tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì không ai sánh bằng. Về mùa mưa, trong nhà ông phải có đến ba chục chiếc lờ rô mà cái nào cũng được ông Sinh Núi sửa lại cái hom lờ bằng những cái “tăm” vót bằng cật tre nhọn hoắt, nhẵn bóng rồi mới đan thành hom. Cái hố ở ruộng lúa để úp cái đáy lờ phải miết nhẵn bóng để các chú rô lượn qua đã trông thấy thóc mồi ở bên trong.
Cái đõ lươn thì phải kén loại nứa bánh tẻ, mỗi đốt dài tới 50 phân trở lên và hai “nốt khuyết” so với đường kính của ống nứa là 15o để khi cắm xuống ruộng, ao chuôm... có độ vênh nhất định thì lươn, trạch mới dễ trườn vào. Mồi phải là loại giun săn đã để chết 2 ngày, có mùi mới là “đặc tiệc” của trạch, lươn.
Riêng việc bắt cá rô “rạch nước”, cua đồng bò nắng thì ông Sinh Núi có hàng pho kinh nghiệm.
Tài vậy đó, nhưng vào những năm 1930-1935, các loại thủy sản ấy “đông” gấp ngàn lần dân số (năm 1954, Hà Nội mới có 38 vạn người), do vậy đi bán chợ sớm, chợ chiều (tại chợ Giấy) chẳng được mấy xu!
Trước cái đói lịch sử năm Ất Dậu (1945) nhà ông Sinh Núi không có nồi bánh chưng ngày Tết! Hàng ngày nhà ông chỉ ăn 2 bữa: cháo ngổ, cháo bầu, cháo ngô và cháo củ chuối hột v.v..
Đói, khổ như vậy nhưng lòng nhân ái từ thiện thì ông là người được dân làng mến phục, vì nhà nào có cháu, con chết đuối thì đều phải nhờ ông Sinh Núi mò, bởi ông không sợ “ma Nam” bắt đền mạng cho kẻ chết đuối.
Gần nửa kiếp sống (bà bác tôi bảo vậy) mà ông chỉ dựng được một túp lều lợp bằng rơm, rạ. Đến nỗi dây đậu ván ra quả lắc lỉu mà không dám trèo lên hái vì sợ đổ mất túp lều!
Trước năm 1945 (ông Chử Văn Dong-sau cách mạng Tháng 8 là Chủ tịch lâm thời của Tổng Cổ Điển) thường nhờ ông Sinh Núi đi gửi truyền đơn cho cơ sở. Hôm 19 tháng 8 năm 1945, ông Sinh Núi là một trong những người khiêng và đánh trống cái đi quanh khắp 9 xóm. Ông Cả Khương múa đầu sư tử, ông Ba Truật múa trùy.
Và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông vẫn được các cán bộ hoạt động hậu địch nhờ đưa đón cán bộ đến nơi dân nuôi và chôn cất những chiến sĩ bị hy sinh.
Sau ngày Hà Nội giải phóng, quê hương tiến hành cải cách ruộng đất, ông Sinh Núi được chia ruộng theo tiêu chuẩn của Hợp tác xã. Do cần cù và tiết kiệm, ông bà Sinh Núi đã lên được ngôi nhà 3 gian 2 chái lợp ngói. Ông sống với con, cháu ở ngôi nhà này đến năm 1983; bà vợ thì được xã tặng khăn đỏ, áo quần đỏ cho đến năm 2005 mới về chầu tiên tổ!
Năm 2003, người con trai trưởng là Sinh Hiền, dâu trưởng đã “cất” lên ngôi nhà mới 3 tầng trên mảnh đất cũ cùng các tiện nghi sinh hoạt văn hóa. Đứa cháu đích tôn tên là Nhuận đã tốt nghiệp Đại học Nhạc họa năm vừa qua.
Bạn bè của Nhuận khi muốn trao đổi hoặc họp lớp thì chỉ việc nhấc máy là đầu dây ở thôn Cổ Điển A, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì có người đáp ngay.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận