Thứ Năm, 30/11/2006, 00:00

    Côn Đảo rạng ngời chí khí

    Chiếc máy bay cũ loại cánh quạt cọc xạch, rù rì trên biển hơn 40 phút, chỉ thấy nước và mây trắng chen lấn nhau, cuối cùng thì cũng nhìn thấy Côn Đảo. Nhìn trên xuống đảo trông thật bí ẩn, hấp dẫn. Khi đặt chân tới lại càng thấy đẹp, đẹp một cách “dễ sợ” luôn...

    No image available
    Chiếc máy bay cũ loại cánh quạt cọc xạch, rù rì trên biển hơn 40 phút, chỉ thấy nước và mây trắng chen lấn nhau, cuối cùng thì cũng nhìn thấy Côn Đảo. Nhìn trên xuống đảo trông thật bí ẩn, hấp dẫn. Khi đặt chân tới lại càng thấy đẹp, đẹp một cách “dễ sợ” luôn. Chả thế mà năm 1895, Camille Saint Saens, nhạc sĩ thiên tài của “mẫu quốc” đã đến ở trọn vẹn một tháng tại Côn Đảo và đêm cuối cùng trước khi rời đi, ông đã thức trắng để viết phần cuối vở ôpêra Brunehildakhi, thực hiện trọn vẹn lời trăng trối của Giurant. Theo bức thư gửi chúa đảo Rousseau, kẻ đã mời ông tới, thì cảm hứng để hoàn thành công việc chính là do vẻ đẹp Côn Đảo mang lại. Nhưng có lẽ bằng sự nhạy bén của nghệ sĩ, Camille Saint Saens cũng tiên đoán được rằng cái nơi đẹp như mộng này đã có và sẽ có một lịch sử bi tráng, phẫn uất, tràn trề khí phách. Nơi đây Gia Long Nguyễn Ánh ẩn náu nhiều lần để thoát khỏi sự truy đuổi của quân Tây Sơn. Cũng tại đây, ông đã ruồng rẫy người thiếp của mình khi bà can ông không nên nhờ nước ngoài giúp đỡ vì như thế, có thắng cũng không vẻ vang, hơn nữa sau này còn nảy sinh nhiều phức tạp. Lời can gián ấy về sau ứng nghiệm, cả một quãng dài lịch sử lùng nhùng trong những quấy đảo của ngoại bang, và Côn Đảo là một chứng tích hãi hùng. Hòn đảo kỳ lạ này trở thành một nhà tù thuộc loại quốc tế không chỉ bởi có cả tù nhân của các nước khác, mà còn bởi sự tàn bạo của nó đã vang ra cả thế giới. Người Pháp và người Mỹ biến Côn Đảo trở thành một địa ngục trần gian. Và Côn Đảo gắn với hàng loạt tên tuổi các chí sĩ yêu nước: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Tôn Đức Thắng, Ngô Gia Tự, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Duẩn, Trần Đăng Ninh, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Bình…

    Tuồng như hòn đảo này sinh ra để tôi luyện chí khí của các bậc anh hùng hào kiệt Việt Nam thế kỷ 20. Không khó khăn gì khi hình dung lại cuộc sống của người tù ở nơi đây. Sự dữ dằn còn đó, ở những bức tường thô dày, bặm trợn, ở màu đá xám xịt, lạnh lẽo, ở những kẽm gai tua tủa và ở những chuồng cọp mà chỉ cần nhìn thôi cũng đã thấy nghẹt thở, bức bối. Cả Côn Đảo là một bảo tàng sống động và mỗi bước chân đều làm vang lên tiếng nói của lịch sử. Có lẽ hiếm ở đâu mà mạng người lại bị coi rẻ như thế, cũng hiếm ở đâu mà sự sống lại được duy trì một cách ráo riết từng ly từng tý như thế. Chỉ một cơn tức giận ngẫu hứng, viên chúa ngục đã cho xả súng giết hàng vài chục mạng người. Nhưng kề đó, ta vẫn tìm thấy ở những kẽ nứt trong các phòng giam, những hạt muối xiu xiu được tù nhân giấu kỹ lưỡng để duy trì sự sống cho cơ thể. Câu chuyện về những viên cai ngục khét tiếng vẫn được kể, rì rầm ở chỗ này, chỗ khác.

    Câu chuyện về những hình phạt khổ sai mà tù nhân phải chịu đựng vẫn được kể lại bởi các nhân chứng sống. Cuộc vượt biển táo bạo bất thành năm 1952 của những người tù cũng được kể lại. Người ta kể lại cả cái giây phút khi nghe chính quyền Dương Văn Minh đầu hàng những người tù Côn Đảo với ống bộ đàm thu được của địch cứ gọi mải miết, vô vọng về đất liền để báo tin Côn Đảo đã tự giải phóng. Người dân Côn Đảo thuộc làu lịch sử nơi mình ở. Còn giờ thì tôi đang nhẩn nha đi giữa nghĩa địa Hàng Dương. Đây là một trong những nghĩa địa đẹp, bởi ngoài cái sạch sẽ của một di tích cấp quốc gia thì nó còn giữ nguyên được vẻ ban đầu, những nấm mộ xếp bằng đá, cả vô danh lẫn hữu danh. Gió ở Hàng Dương không phải là gió. Sự thiêng liêng đang cất tiếng, dai dẳng, bền bỉ, từ lòng đất cất lên, từ trời cao vọng xuống, từ biển vỗ vào. Lá thông rụng trải một lớp màu nâu trầm lên nghĩa địa. Mộ Võ Thị Sáu khang trang, khuôn viên gọn đẹp và hoa sứ nở rực rỡ. Tấm gương người liệt nữ này làm bất kỳ ai cũng phải xúc động, bởi bà còn quá trẻ. Cái uy linh của “Bà Sáu”, “Cô Sáu” bao trùm cả Côn Đảo, người ta nhắc tới “Bà Sáu”, “Cô Sáu” với tất cả sự thành kính. Mọi việc làm tốt đẹp mà trắc trở đều được an ủi rằng có “Cô Sáu” phù hộ, gặp oan ức thì cũng chỉ có “Bà Sáu” chứng giám. Thông vẫn rì rầm, u trầm và hoa anh đào vẫn lơ đãng rắc lên những ngôi mộ vô danh.

    Người trông coi nghĩa địa nhỏ bé đen đủi vẫn thấp thoáng nhặt lá rụng bên ngôi mộ này, nhổ cỏ bên ngôi mộ kia như một người bà con tận tình thăm hỏi nhau. Dù sao thì mỗi ngôi mộ cũng là một con người. Tất cả những ai đã từng nằm xuống tại đây đều là con dân nước Việt cả. Quần thể tượng ở nghĩa địa Hàng Dương xoay quanh cái chi tiết trao áo cho nhau. Một người tù trước khi chết đã cởi áo trao cho bạn tù và dặn ráng sống mà phục vụ cách mạng. Sau này, người được trao áo đã trở lại thăm Côn Đảo, vào năm 1976, đó chính là Tổng bí thư Lê Duẩn. Sẽ chẳng mấy ai hiểu thấu được tâm trạng của vị Tổng bí thư khi trở lại đây. Nhưng tôi chắc chắn ông có mang theo cảm giác kiêu hãnh của người chiến thắng. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Tổng bí thư đã nói: “Côn Đảo là trường học lớn với các thế hệ mai sau”. Điều ấy cho tới bây giờ và mãi mãi về sau còn đúng, dù dâu bể thế nào đi nữa. Chí ít ta nhận từ Côn Đảo bài học về ý chí tồn tại. Và mai sau, người ta vẫn phải truy tìm xem cái động lực gì đã thúc đẩy những người tù gầy còm ốm yếu đủ sức làm nên một điều phi thường chuyển hóa Côn Đảo, từ “Địa ngục trần gian” thành một Bảo tàng cách mạng.

    Côn Đảo sừng sững, kiêu hãnh giữa muôn trùng sóng gió.

    Ghi chép của NGUYỄN BÌNH
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...