Thứ Tư, 22/11/2006, 00:00

    Sống lại những cánh rừng

    Mùa mưa, trời miền tây Quảng Trị tối sầm, những cơn mưa đầu mùa bất chợt ào đến. Con đường từ trung tâm xã Hướng Phùng đến với đội trồng rừng đơn vị 52-Đoàn B37-Quân khu 4 ngập chìm trong bùn đất, chiếc xe min chở chúng tôi cứ ì à, ì ạch, lần mò từng đoạn uốn lượn theo những sườn đồi gập ghềnh, khúc khuỷu bùn đất lút cả bánh xe; phía dưới, con suối dòng nước đỏ ngầu cứ cuồn cuộn chảy thật khủng khiếp...

    No image available
    Mùa mưa, trời miền tây Quảng Trị tối sầm, những cơn mưa đầu mùa bất chợt ào đến. Con đường từ trung tâm xã Hướng Phùng đến với đội trồng rừng đơn vị 52-Đoàn B37-Quân khu 4 ngập chìm trong bùn đất, chiếc xe min chở chúng tôi cứ ì à, ì ạch, lần mò từng đoạn uốn lượn theo những sườn đồi gập ghềnh, khúc khuỷu bùn đất lút cả bánh xe; phía dưới, con suối dòng nước đỏ ngầu cứ cuồn cuộn chảy thật khủng khiếp. Tôi và đồng chí Nguyễn Huy Hùng-nhân viên ban chính trị đơn vị 52 phải tháo giày và quần dài cho vào túi ni lông cùng vật lộn với chiếc xe trên cung đường ấy; nếu không có một tay lái lụa và một dây thần kinh thép thì không thể đi nổi.

    Sau gần 3 giờ vật lộn với đường, chúng tôi đến đại bản doanh của đội trồng rừng đơn vị 52 đứng chân ở bản Ra Lỳ-xã Hướng Sơn-huyện Hướng Hóa-tỉnh Quảng Trị, cũng vừa lúc các anh từ những cánh rừng trở về sau một buổi lao động vất vả, nhìn các anh ai cũng mồ hôi nhễ nhãi ướt đậm vạt áo, nhưng trên khuôn mặt vẫn hiện rõ nét vui mừng phấn khởi vì có chúng tôi vào thăm đơn vị; những món quà nhỏ, những lá thư của người mẹ, người vợ, người bạn và nhất là người yêu như tiếp thêm sức mạnh cho các anh.

    Đồng chí Trần Đức Ngọc-đội trưởng, sau nụ cười và cái bắt tay chắc nịch mời chúng tôi vào nhà, anh tâm sự: Mới đầu đến, đây là một vùng đất hoang vu rậm rạp, đất đai khô cằn sỏi đá, điều kiện sinh hoạt cực kỳ khó khăn. Chúng tôi phải cử người đến nhà già làng, trưởng bản và những người dân đến đây từ trước, để học theo cách của bà con dân tộc thiểu số, lên tận đầu nguồn chặt cây tre, cây nứa làm thành ống dẫn nước về phục vụ sinh hoạt; còn thực phẩm thì phụ thuộc hoàn toàn vào cánh xe ôm, mua một lần để dành ăn 2-3 ngày.

    Ngày đi làm mệt như vậy, nhưng vào các buổi tối, các ngày nghỉ chủ nhật, anh em chúng tôi vẫn mang sách báo của đơn vị đến nhà già làng, trưởng bản và trung tâm học tập cộng đồng đọc cho bà con nghe. Hiệu quả lắm anh ạ, không chỉ truyền tải các thông tin thời sự cần thiết hàng ngày, mà còn tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với bà con, đây cũng là thời cơ thuận lợi vận động nhân dân thay đổi cách nghĩ, cách làm, đẩy lùi tập tục săn, bắt, hái, lượm…

    Đầu giờ chiều. Sau tiếng còi báo thức, các anh nhanh chóng chuẩn bị hành trang cho mình để lên rừng; nhìn các anh, ai cũng đeo “xà cạp” lên quá đầu gối, bên hông bình tông nước; vai vác dao, vác cuốc; sau lưng cõng những mầm xanh cho rừng mà tôi liên tưởng đến các chiến sĩ Trường Sơn năm xưa, ngụy trang lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Còn những người lính hôm nay, các anh lại ngụy trang lên đường hồi sinh cho những cánh rừng đã bị tàn phá bởi thứ chất độc đi-ô-xin trong cuộc chiến tranh năm ấy. Tôi cũng chuẩn bị hành trang cho mình đi cùng các anh; người nối người mang những gùi cây nặng trịch sau lưng, trông giống như một đoàn tàu oằn mình vượt dốc, hình như, các anh quên cả mệt nhọc, quên cả vất vả, cố sức mang những gùi cây trèo lên từng bước, từng bước lên thác, xuống ghềnh, hết qua đèo rồi lại qua suối, đi hết dãy đồi này rồi băng qua ngọn núi khác, mong sao cho đến đích.

    Hồ Rưn, một chiến sĩ người dân tộc Vân Kiều mới nhập ngũ đi cạnh tôi, sau lưng cõng một gùi cây nặng trịch mà bước chân cứ thoăn thoắt.

    - Chỗ nào cũng như thế này sao? Tôi hỏi. Đã ăn thua gì anh. Rưn vừa đi vừa trả lời trong hơi thở: Sang bên kia, dốc lắm. Chúng em phải buộc dây thừng vào một tảng đá rồi từ từ tụt xuống, không đi được thế này đâu.

    Sau 45 phút trèo hết ngọn đồi, nhìn sang phía bên kia, một quả đồi được phát những đường băng theo đường bình độ thật là đẹp. Chỉ tay về phía đồi, Rưn nói: buổi sáng chúng em làm bên đó, bây giờ làm bên này.

    Nghỉ một lát cho ráo những giọt mồ hôi, các anh bắt tay vào việc. Người phát, người cuốc, người trồng hết luống này sang luống khác thật nhịp nhàng và tĩnh lặng. Những giọt mồ hôi ướt sũng áo các anh, chảy xuống thấm vào lòng đất. Sau những giọt mồ hôi ấy là những đường băng, những cái hố và những mầm xanh cũng được hồi sinh từ đấy.

    Rưn nói với tôi:

    - Để trồng được một cây xuống đất, chúng em phải phát sạch những cây lau, cây lách thành những đường băng, đào những chiếc hố đúng tiêu chuẩn kỹ thuật rồi mới trồng đấy; có chỗ cuốc không may trúng phải đá ngầm hoặc mảnh bom sót lại, lưỡi cuốc quăn ngược, tay đau rát mấy ngày liền.

    Dừng cuốc, lau giọt mồ hôi đang lăn dài trên má căng phồng, Rưn nói tiếp: đây là rừng mới trồng, còn 906ha rừng trồng 4 năm về trước ở xã Hướng Việt và Hướng Phùng, có chỗ bây giờ cây đã khép tán thành rừng đẹp lắm anh ạ!

    Các anh cứ lặng lẽ với công việc, người phát cứ phát, người đào cứ đào, người trồng cứ trồng như những con ong thợ. Trồng xong cây, lại phát đường băng chống cháy, phát đường phân lô; làm chòi canh gác và chăm sóc cho thành rừng rồi mới bàn giao cho địa phương. Trời nắng cũng như trời mua, ngày tiếp ngày, tháng nối tháng; ăn cùng với rừng, ngủ cùng với rừng, tất cả vì màu xanh của rừng. Một công việc thầm lặng tưởng chừng như đơn giản nhưng thật không đơn giản chút nào. Các anh đã cùng nhau chung sức, đồng lòng vượt qua tất cả để ngày mai, nơi đây trở thành một cánh rừng xanh tốt.

    Hơn 5 năm qua, cán bộ, chiến sĩ đội trồng rừng đơn vị 52 cùng với toàn đoàn đã làm 2.100m2 nhà tạm, xây dựng 46 vườn ươm, nhân giống được 3.497.550 cây các loại như: Keo, muồng, sao, bời lời… đúng tiêu chuẩn kỹ thuật ở 4 đội sản xuất, cung cấp cho đơn vị thực hiện dự án và nhân dân địa phương, các lực lượng đóng quân trên địa bàn trồng trên các trục đường, trường học, trạm xá, công sở, vườn đồi các hộ gia đình… Tổ chức 8 đợt tập huấn bồi dưỡng kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng cho trên 4.000 lượt cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng đóng quân trên địa bàn và nhân dân địa phương. Tính đến nay đơn vị và nhân dân địa phương trồng được 1.387ha rừng; tỷ lệ cây sống trên 90% có nơi đã phát triển thành những cánh rừng xanh tốt. Bên cạnh diện tích trồng mới, đơn vị còn khoanh nuôi chăm sóc 400ha, bảo vệ 4.000ha ở hai xã Hướng Lập và Hướng Phùng. Phát đường băng cản lửa 60km, làm 24 chòi canh, 165 biển cấm các loại. Phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền và nhân dân 5 xã, lực lượng kiểm lâm huyện và đồn Biên phòng 609 thành lập các tổ, đội, định kỳ, đột xuất đi kiểm tra phát hiện và truy bắt các phần tử phá hoại rừng. Huy động hàng nghìn lượt người tham gia dập tắt 6 vụ cháy rừng.

    Núi rừng Trường Sơn sau chiến tranh đã bị thứ chất độc đi-ô-xin tàn phá khốc liệt, những gốc cây cổ thụ sót lại đứng chơi vơi giữa bạt ngàn cây lau, cây lách thật điêu tàn; giờ đây đang từng ngày từng giờ được hồi sinh dưới bàn tay tận tình, khéo léo của cán bộ, chiến sĩ đơn vị 52-Đoàn B37-Quân khu 4.

    NGUYỄN ANH TUẤN
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...