Cuộc đời, tình yêu và nghị lực của bà là hiện thân nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Và đó cũng chính là động lực thôi thúc tôi cầm bút ghi lại những câu chuyện cảm động về bà. Người phụ nữ đó là Trần Thị Lý, vợ Anh hùng LLVT nhân dân Trần Á.
Ngồi trước mặt tôi là một người phụ nữ đẹp và phúc hậu. Tuy đã ngoài 60 nhưng bà vẫn giữ được bóng dáng nhan sắc của một thời xuân trẻ. Cuộc đời, tình yêu và nghị lực của bà là hiện thân nét đẹp của người phụ nữ Việt . Và đó cũng chính là động lực thôi thúc tôi cầm bút ghi lại những câu chuyện cảm động về bà. Người phụ nữ đó là Trần Thị Lý, vợ Anh hùng LLVT nhân dân Trần Á.
Tình yêu thời chiến tranh
Năm 1968, cô sinh viên xinh đẹp Trần Thị Lý, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi đang học năm cuối Trường đại học Mỏ-địa chất tình cờ gặp chàng sĩ quan Trần Á công tác ở Ban chính trị đoàn 126 đặc công Hải quân. Cùng là “dân tập kết” nên họ cảm tình, rồi yêu nhau. Chị yêu anh bởi sự mộc mạc chân tình của chàng trai đất Quảng chứ không phải vì anh là một Anh hùng (anh được phong Anh hùng LLVT năm 1956). Hai năm sau, đám cưới của anh chị được tổ chức gọn nhẹ, đơn sơ tại đoàn địa chất 58 Mạo Khê, Quảng Ninh, nơi chị làm việc.
Khi chị vừa mới sinh con gái đầu lòng được hai ngày thì anh vào chiến trường. Chị hiểu, anh ra đi giáp mặt với kẻ thù, sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc. Thế nhưng vì nghĩa lớn chị vẫn động viên anh lên đường giết giặc lập công.
|
Chị yêu anh bởi sự mộc mạc chân tình của chàng trai đất Quảng chứ không phải vì anh là một Anh hùng (anh được phong Anh hùng LLVT năm 1956). |
Sau chiến thắng của quân ta ở Cửa Việt, cuối năm 1972, anh được ra Bắc dự lễ báo công. Vợ chồng gặp nhau, mừng mừng, tủi tủi. Mỗi khi bố bế, bé Hồng Loan cứ khóc thét lên vì lạ. Ôm con nhỏ vào lòng mà anh thấy sống mũi mình cay cay… Anh về được vài ngày rồi lại lên đường vào . Anh tham gia hầu hết các trận đánh lớn nhỏ, có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng Huế-Quảng Nam-Đà Nẵng (quê hương anh) rồi lại vào tiếp quản Cam Ranh. Mãi đến cuối năm 1975, mới ra Bắc.
Lúc anh trở ra, con gái thứ hai đã được gần hai tuổi (chị Lý sinh cháu Thanh Tú năm 1973). Ngày đất nước thống nhất cũng là lúc những người con đi xa trở về xây dựng quê hương. Vợ chồng anh cũng nằm trong số đó. Nói sao hết được niềm vui của những người con chiến thắng trở về. Nhưng cũng chính từ đây gia đình anh bước vào giai đoạn gặp nhiều khó khăn, vất vả…
Hai bàn tay trắng tạo dựng cuộc sống
Trở về Đà Nẵng, Trần Á được trên giao nhiệm vụ Chính ủy đoàn 403 hải quân đóng tại Sơn Trà, Trần Thị Lý công tác ở Công ty tư vấn thiết kế thành phố Đà Nẵng. Sau ngày giải phóng, hậu quả của chiến tranh để lại khá nặng nề, mọi người bắt tay xây dựng quê hương từ đói nghèo, lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém, vốn liếng đầu tư hạn hẹp. Vì vậy cơ quan bà chẳng có việc làm ổn định. Còn ông làm chỉ huy một đoàn chuyên huấn luyện chiến sĩ mới, tình hình đơn vị khá phức tạp nên trực chiến 24/24 giờ mỗi ngày. Tiếng là cùng một thành phố nhưng một vài tháng ông mới tạt về căn phòng tập thể 9m2, vui đùa với con vài phút rồi đến đơn vị. Thành phố thời bao cấp, tất cả mọi thứ đều thiếu và đắt đỏ. Đồng lương viên chức Nhà nước chẳng thấm vào đâu so với thực tế chi tiêu. Một mình bà xoay trở trăm đường. Do sức khỏe yếu, vết thương cũ tái phát nên năm 1985, Trần Á xin về hưu. Một năm sau, ông lại mắc thêm chứng bệnh pa-ki-sơn do tổn thương tế bào bởi sức ép của đạn bom. Chưa hết, ông còn bị đau dạ dày và cả u xơ tiền liệt tuyến nằm liệt giường mấy năm trời. Có thời điểm ông nghĩ: thời gian tại ngũ đi biền biệt, khi về hưu không giúp được gì cho vợ con mà còn tăng thêm gánh nặng gia đình, nên không chịu uống thuốc, bà phải kịp thời an ủi, động viên, ông mới nghe theo.
Năm 1991, cơ quan bà không có việc làm, mấy tháng trời chẳng có lương. Trong khi đó ông nằm liệt trên giường bệnh. Hai con không có tiền nộp học, phải nhịn đói đến trường. Bà đâm ra bi quan, nhưng nghĩ thương chồng, thương con, nên đã vượt qua. Thấu hiểu được sự lam lũ của vợ, con nên ông chịu khó thuốc thang, rèn luyện, bệnh tình có phần thuyên giảm. Những năm 1994-1999, ông đã có thể chống gậy đi lại trong nhà. Hai cháu tốt nghiệp có việc làm. Hồng Loan công tác ở Công ty xổ số và dịch vụ in Đà Nẵng, Thanh Tú công tác ở quận Thanh Khê. Được sự giúp đỡ của hai gia đình nội, ngoại, bạn bè cơ quan đơn vị và sự dành dụm tiết kiệm từ đồng lương nên ông, bà mua được căn phòng nhỏ ở khu tập thể do cơ quan bán giá rẻ. Mặc dầu còn chật vật nhưng từ đôi bàn tay trắng, gia đình ông, bà đã có một ngôi nhà của riêng mình. Dù khổ đau nhưng bằng tình yêu, lòng nhân hậu và sự bao dung độ lượng họ vẫn tạo nên hạnh phúc…
Niềm tin
Trong ngôi nhà đơn sơ ngõ 64/53 Trần Cao Vân, ông ngồi đó, thân hình gầy guộc, đôi mắt mở to. Ánh mắt ông chợt sáng bừng lên khi tôi tặng bức chân dung Bác Hồ với Hải quân. Ông đưa hai bàn tay run run đón nhận, rồi gật đầu ra hiệu cảm ơn. Tôi nhìn thấy mắt ông rớm lệ. Sau khi lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán rồi đỡ ông nằm xuống, bà Lý tâm sự: “Nhờ thuốc thang và luyện tập, bệnh tình ông thuyên giảm được một thời gian. Nhưng từ năm 2000 đến nay ông nằm liệt giường, mọi sinh hoạt đều tại chỗ. Nhất là khi trái gió trở trời, vết thương tái phát, người ông co quắp lên cơn co giật, khi tỉnh lại miệng lắp bắp không nói thành lời, trông tội lắm!”.
Khó khăn như vậy! Nhưng khi tâm sự với tôi, bà nói: “Tôi chỉ mong mình luôn khoẻ mạnh để chăm sóc ông ấy đến trọn đời. Dù khổ mấy, cực mấy tôi cũng chịu được. Miễn sao ông ấy sống lâu với con cháu”. Nghe nói vậy tôi càng thêm khâm phục bà hơn. Bởi tôi hiểu: đã 34 năm qua, bà nuôi ông trong điều kiện khó khăn vất vả nhưng không hề kêu ca phàn nàn. Tôi biết nỗi đau của bà bây giờ là sự giãi bày chia sẻ. Những lúc vui, buồn bà muốn tâm sự với ông nhưng muốn cũng chẳng được vì ông không nói được nên lời.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận