Sáng 25-10-2006, Thiếu tướng Trần Ngọc gọi điện thoại cho tôi, báo tin: Anh ra Hà Nội dự hội nghị, sáng mai lại bay vào Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian quá gấp nên anh không thể thực hiện được lời hứa lên Phú Thọ thăm tôi và các đồng đội chiến đấu cũ thân thiết. Anh mời tôi xuống ngay Hà Nội để gặp mặt, tại địa chỉ một gia đình người thân của anh ở ngoại thành, cách ga Văn Điển 5km, thuộc huyện T
Sáng 25-10-2006, Thiếu tướng Trần Ngọc gọi điện thoại cho tôi, báo tin: Anh ra Hà Nội dự hội nghị, sáng mai lại bay vào Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian quá gấp nên anh không thể thực hiện được lời hứa lên Phú Thọ thăm tôi và các đồng đội chiến đấu cũ thân thiết. Anh mời tôi xuống ngay Hà Nội để gặp mặt, tại địa chỉ một gia đình người thân của anh ở ngoại thành, cách ga Văn Điển 5km, thuộc huyện Thanh Trì. Trước khi ngừng cuộc gọi, anh còn cẩn thận dặn tôi, nhớ đi bằng xe tắc xi, để bảo đảm sức khỏe, an toàn và không bị lạc đường. Hết bao nhiêu tiền thuê xe, anh sẽ thanh toán.
Ngay buổi chiều hôm đó, tôi háo hức vượt chặng đường dài hơn 100km bằng xe ca, xe buýt và xe ôm. Khi tới địa chỉ anh dặn, thì ánh nắng chiều Đông vừa tắt, hoàng hôn buông xuống, gió mùa Đông Bắc mang hơi lạnh ập đến. Tôi đứng trước ngôi nhà ngói 5 gian, hiên tây, chồng thêm một gian tầng, lớn tiếng gọi tên anh với hy vọng anh đang ở trong nhà đợi tôi và sẽ chạy ra ôm lấy tôi mừng rỡ, tếu táo như mọi lần. Nhưng trái lại, chỉ có không gian yên tĩnh và căn nhà mờ tối, khiến tôi cụt hứng. Lát sau mới có một bà lão trạc 80 tuổi, mặc áo gụ, quần thâm, lưng hơi còng, từ gian nhà ngang ám khói đi ra, đôi dép nhựa cũ lê quèn quẹt trên mặt sân gạch. Bà lão đưa đôi mắt ướt nhèm, hấp háy nhìn tôi giây lát, rồi đon đả mời tôi vào nhà. Bà lần tìm bật công tắc điện, ánh sáng bừng lên chan hòa, rồi xách ấm nước chè nóng, tay run run rót ra đầy một chén mời tôi uống và chép miệng phân trần:
- Sáng nay “Bố cháu” đi họp trên Thành phố, có dặn lại, ông bà ở nhà, tiếp đón giúp một anh bạn ở mạn ngược về chơi, bảo là cứ ngồi đợi, tối nay con về muộn một chút. Ông lão nhà tôi đang bận ngồi thiền, cũng sắp xong rồi. Còn tôi vô phép anh, đang dở nấu nồi cơm. Anh cứ thoải mái tự nhiên cho nhé!
Nói xong bà lão lại lập cập đi xuống nhà ngang. Tôi ngồi trơ trọi một mình. Tôi ngả người ngồi trên chiếc ghế xa lông Tàu kiểu cổ, nhấm nháp chén nước chè nóng cho ấm người và đưa mắt ngắm nhìn các đồ đạc trang trí nội thất: ở gian giữa kê chiếc án gian, bên trên bày la liệt các đồ thờ, bát hương tầng cao tầng thấp, có cả mâm hoa quả còn tươi nguyên, với đủ loại quả như: xoài, măng cụt, vú sữa… những thứ trái cây đặc sản của Nam Bộ. Sát xà ngang treo bức hoành phi và đôi câu đối chữ nho trạm nổi, được sơn son thếp vàng. Bên dưới kê chiếc sập gụ kiểu khuôn tranh, chân quì, dạ cá được trạm bong đục thủng, với những họa tiết cầu kỳ, xung quanh còn khảm trai viền tinh xảo, nổi vân xà cừ óng ánh, tôn thêm nơi thờ tự nghiêm trang lộng lẫy. Sát tường có chiếc tủ đứng gắn gương cỡ lớn và chiếc tủ xệp, bên trên để chiếc ti-vi màu màn hình phẳng 21 in. Ngoài hiên bố trí mấy chậu hoa cây cảnh xanh tốt. Chỉ mới nhìn thoáng qua, cũng đủ biết chủ nhà là một người khá giả và chơi sang. Tôi bất giác đứng lên, tiến lại ngắm nhìn mấy tấm ảnh màu cỡ lớn, to bằng bức tranh, được lồng trong khung kính treo trên tường nhà. Những bức ảnh chụp kỷ niệm Thiếu tướng Trần Ngọc, vinh dự được gặp một số vị lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước và Quân đội ta. Có cả một tấm ảnh chụp toàn cảnh gia đình anh, hiện đang ở Thành phố Mỹ Tho-tỉnh Tiền Giang, những người trong tấm ảnh ấy tôi đều quen biết. Tôi yên tâm ngồi đây để đợi anh về, nhưng thoáng băn khoăn suy nghĩ tự hỏi: về mối quan hệ của gia đình này với anh là như thế nào? Tôi phỏng đoán chỉ là quan hệ anh em họ hàng thân thiết mà thôi! Vì như lâu nay tôi biết anh sinh năm 1947, quê quán ở huyện Khoái Châu-tỉnh Hưng Yên, bố mất từ khi anh chưa chào đời. Mẹ đi bước nữa, anh sống với bố dượng và mẹ đẻ đến năm 10 tuổi, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, anh phải đi ở đợ chăn trâu cắt cỏ mướn, cho một gia đình ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Về sau anh đã nhận gia đình này là bố mẹ nuôi. Năm 1964, anh lên đường nhập ngũ. Những năm chiến tranh chống Mỹ, tôi cùng ở đơn vị với anh, thấy anh vẫn nhận các đồng đội cả hai quê Hưng Yên và Bắc Giang là đồng hương.
Tôi chợt liên tưởng tới lời giới thiệu thân mật của bà lão chủ nhà ban nãy và nảy ra ý định đi tìm gặp bà để hỏi chuyện cho rõ. Tôi liền đi ra sân, bóng tối nhạt nhòa, mảnh vườn nhỏ trước nhà trồng đầy cây ăn quả, màu lá xanh hơn dưới ánh sáng bóng điện từ trong nhà hắt ra. Bỗng tôi nghe tiếng mõ khuơ cốc… cốc…cốc… điểm nhịp đều đều, lẫn trong tiếng tụng kinh niệm Phật và mùi hương trầm thoang thoảng tỏa ra ở phía góc vườn. Tôi cúi nhìn qua tán lá cây, thấy ở đó có ánh điện tỏa sáng trong một gian nhà nhỏ khung gỗ, cột vuông, mái lợp ngói âm, xung quanh có rèm thưa rủ xuống. Gian nhà nhỏ ấy được đặt ngay ngắn trên các trụ bê tông khối vuông vững chắc, sàn cao hơn mặt đất khoảng một mét và có cầu thang 4 bậc đi lên. Tôi lần theo lối nhỏ trong vườn, tò mò đến gần để nhìn, nhưng chưa kịp ngẩng đầu lên, đã thấy tiếng mõ, tiếng cầu kinh niệm Phật im bặt. Tôi hơi chột dạ, hốt hoảng định quay lại, thì đã nghe tiếng ông lão ngồi trên am gọi đúng tên mình:
- Tôi cũng xong việc rồi đây, mời anh quá bộ lên chiếc am nhỏ này, để ta trò chuyện!
Dưới ánh sáng của bóng đèn nê-ôn, tôi nhận ra ông lão râu tóc bạc phơ, thân hình gầy yếu, trong bộ quần áo màu gụ của nhà tu hành, khuôn mặt có nhiều nét hao hao giống anh Trần Ngọc, đặc biệt là đôi mắt nhỏ, ẩn sâu dưới đôi lông mày rậm và chiếc miệng hơi rộng. Tôi bước lên cầu thang chào ông lão và khoanh chân ngồi xuống chiếc chiếu ngay trước cái mõ gỗ và giá sách để cuốn kinh nhà Phật đang mở. Rồi tôi xin phép được thắp hương và bái lạy trước bàn thờ Phật. Ông lão rối rít hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi và gia đình tôi, tạo bầu không khí thân mật. Tôi chủ động nói sơ bộ về mối quan hệ tình cảm thân thiết của tôi với anh Trần Ngọc và giải thích rõ lý do sự có mặt của mình ở đây hôm nay. Ông lão xua tay cười bảo:
- Anh Ngọc cũng đã nói cho tôi nghe về anh và các đồng đội chiến đấu cũ thân thiết, được mời đến nhà gặp mặt. Tôi cũng từng là bộ đội chống Pháp, nên rất hiểu và thông cảm với những người lính Cụ Hồ. Tôi mong anh hãy coi đây là nhà của mình, cứ tự nhiên và thoải mái. Đợi lát nữa anh Ngọc về chúng ta cùng ăn cơm tối.
Thấy ông lão thật thà xởi lởi, tôi liền mạnh dạn hỏi ngay điều mình đang quan tâm. Ông lão nhìn tôi cười, rồi chậm rãi nói:
- Tên tôi là Nguyễn Xuân, là bố đẻ của Ngọc. Tôi vẫn chưa chết như nhiều người vẫn lầm tưởng. Câu chuyện tôi kể hơi dài, anh có sẵn lòng nghe không?
Nói xong ông lão đứng dậy, đổi tư thế ngồi từ xếp bằng trên chiếu dưới sàn, lên ngồi ở mép chiếc giường một bằng gỗ mộc kê bên cạnh. Tôi thấy ông đi tập tễnh, đôi chân run rẩy như đứa trẻ tập bước, nên ái ngại hỏi ông:
- Ông bị thương ở chân ạ?
- Đúng vậy, nhưng vết thương này không phải do bom đạn địch gây nên. Mà thôi, lát nữa anh sẽ rõ!
Linh tính mách bảo tôi về cuộc đời ông lão sẽ có nhiều uẩn khúc, khiến tôi càng chăm chú nhìn và mạnh dạn xin phép được vén cao hai ống quần rộng thùng thình của ông để xem cụ thể. Đôi chân ông đã teo tóp, khẳng khiu gầy như que củi, không còn đủ sức nâng đỡ cơ thể để ông lão có những bước đi như người bình thường. Ông lão tựa lưng vào đống chăn gối để trên giường và bắt đầu kể chuyện cho tôi nghe về cuộc đời mình:
![]() |
|
Mít tinh tại Nhà hát Lớn Hà Nội tháng 8-1945 |
Tôi sinh năm 1925 trong một gia đình nông dân lao động, trên quê hương này. Lớn lên tôi được giác ngộ và hăng hái tham gia phong trào cách mạng. Năm 1945 được kết nạp vào Đảng và tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám. Sau đó, tôi được tổ chức phân công đi xây dựng phong trào cơ sở, ở một số xã thuộc tỉnh Hưng Yên. Bấy giờ Đảng ta chưa ra hoạt động công khai, nên tôi phải bí mật đóng vai một tá điền, chuyên đi cày thuê cuốc mướn cho các gia đình ông Chánh, ông Lý ở làng có tư tưởng tiến bộ và tinh thần yêu nước, vận động họ ủng hộ phong trào Mặt trận Việt Minh. Chỉ sau một thời gian ngắn, các cơ sở quần chúng cách mạng được thành lập, phong trào đấu tranh lên cao, chuẩn bị cho sự ra đời của chính quyền nhân dân xã. Nhưng các hoạt động của tôi, cũng không qua mắt được bọn mật thám chỉ điểm cho địch nằm vùng đang ráo riết tiến hành các hoạt động phá hoại phong trào cách mạng ở đây. Một buổi tối như thường lệ tôi đi xây dựng cơ sở, khi đến đầu làng, nơi có những ruộng mía xanh tốt um tùm, bất ngờ tôi bị ba tên lạ mặt nhảy ra chắn đường, chúng vung gậy và khuơ kiếm trước mặt hỏi tôi:
- Mày có phải là thằng Xuân, cán bộ Việt Minh biệt phái về không?
Tôi ra vẻ sợ sệt rối rít chắp tay van xin chúng và đáp:
- Không phải, tôi là thợ đi cày thuê cho cụ Chánh vừa về đến đây. Nhà tôi ở ngay đầu làng này.
Chúng liền nhảy vào đấm đá tôi túi bụi, soi đèn pin vào mặt tôi nhận dạng, rồi quật tôi xuống đất tiếp tục tra hỏi:
- Nếu mày ngoan cố không khai nhận, chúng tao sẽ giết chết mày tại đây, để làm gương cho bọn Việt Minh.
Giữa lúc đó, thoáng có tiếng chân người từ xa đi tới. Chúng liền bảo nhau trói chân tay tôi lại, định khiêng ra bờ sông gần đó để thủ tiêu. Tôi liền lấy hết sức bình sinh gào lên:
- Ối dân làng nước ơi! Cướp… cướp… cướp… Cứu tôi với!
Lập tức tôi nghe rõ tiếng một người con gái cũng hô hoán theo và chạy tới. Thấy vậy cả ba tên Việt gian đều bỏ chạy. Cô gái đến bên tôi, cúi xuống cởi trói và dìu tôi đứng dậy, tập tễnh bước đi. Cô gái giục tôi:
- Anh hãy theo em về nhà, để kiểm tra lại vết thương, nghỉ ngơi cho khỏe rồi hãy đi.
(Còn nữa)
BÙI NGỌC QUẾ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận