Họ là những người từ các vùng quê phía Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm kế sinh nhai bằng nghề bán ngô luộc, khoai nướng, cuộc sống lấy đêm làm ngày. Nơi trú ngụ của họ được gọi bằng những cái tên đầy tâm trạng: làng “Ngô Luộc”, xóm “Khoai Nướng”...
Họ là những người từ các vùng quê phía Bắc vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm kế sinh nhai bằng nghề bán ngô luộc, khoai nướng, cuộc sống lấy đêm làm ngày. Nơi trú ngụ của họ được gọi bằng những cái tên đầy tâm trạng: làng “Ngô Luộc”, xóm “Khoai Nướng”... và đội quân gia nhập các “làng” này đang ngày càng đông hơn. Bên cạnh một bộ phận lớn dân nghèo tìm được việc làm, tăng thu nhập, sự có mặt của họ đã và đang làm cho bức tranh đô thị thêm nhiều gam màu, cả sáng và tối...
Đêm bộ hành cùng dân làng “Ngô Luộc”
Cơn mưa lớn kéo dài khiến tôi không thể rời Trung tâm Báo chí Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ V, dù lúc này đã gần nửa đêm. Khi kim đồng hồ bắt đầu dịch sang một ngày mới, tôi mới trở về cơ quan. Phố xá im lìm, vắng vẻ. Đến ngã tư đường 3-2, Lý Thường Kiệt, bỗng chiếc xe phát ra những tiếng khùng khục, khùng khục rồi khựng lại. Tôi loay hoay mãi nhưng vẫn không tài nào bắt chiếc xe nổ máy lại được. Đang lúc ngán ngẩm thì phía bên kia lề đường vọng lại tiếng gọi:
- Thưởng thức củ khoai nướng cho ấm bụng đi anh, rồi dắt bộ với tụi em cho vui. Giờ này các tiệm sửa xe đóng cửa hết rồi.Hai chàng trai trạc 25 tuổi, vừa đẩy hai chiếc xe cải tiến chở khoai lang, ngô, nồi niêu..., vừa quạt lửa nướng khoai. Từ đây về cơ quan là quãng đường hơn 3 cây số. Làm bạn đường với hai anh chàng này là cách tốt nhất trong hoàn cảnh này. Và biết đâu lại có được những điều thú vị. Tôi quyết định dắt xe đi cùng hai chàng. “Khoai nướng, bắp nướng đ...â...y...”. Tiếng rao kèm tiếng gõ lách cách vào cái cọc tre đánh thức thú vui ăn đêm của không ít người. Giữa phố đêm, mưa bay, mùi khoai, ngô nướng dậy trên bếp than hồng quyện cùng mùi hành phi mỡ thật ấm áp và hấp dẫn. Vừa nhấm nháp vị khoai nướng ngạt ngào hương vị đồng quê, tôi vừa trò chuyện với hai người bạn đường. Đó là hai anh em sinh đôi. Anh tên là Nguyễn Văn Chiến, còn em là Nguyễn Văn Minh, quê ở huyện Lý Nhân, Hà . Chiến kể: Tốt nghiệp Cao đẳng cơ khí ngành điện dân dụng, năm 2001 Chiến vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm việc làm. Sau hơn hai năm trầy trật, thu nhập từ nghề mắc điện thuê không đủ lo cuộc sống hằng ngày và trả tiền nhà trọ. Định quay về quê thì Chiến được mấy người đồng hương rủ đi bán ngô luộc, khoai nướng. Chiến gia nhập vào “làng Ngô Luộc” ở khu Bà Quẹo, quận Tân Bình. Chiến bảo: Làm nghề này không phụ thuộc thời gian. Bao giờ bán hết hàng mới thôi. Gặp hôm trời mưa gió như thế này thì thức thông tầm đến sáng là chuyện bình thường. Điểm bán hàng lý tưởng nhất từ nửa đêm về sáng là tại các khu chợ đêm, khu ẩm thực về đêm. Tính trung bình mỗi tháng, trừ hết mọi khoản chi phí, Chiến dành dụm được khoảng 450.000 – 500.000 đồng. Năm ngoái, Chiến về quê đem theo đứa em sinh đôi vào cùng làm ăn.
Chiến kể chuyện về mình, về người, hồn nhiên và sôi nổi, vui có nhưng buồn cũng không ít; có đêm bị bắt chẹt, thậm chí trấn lột. Như trường hợp chị Hoa, hàng xóm với Chiến, vào dịp cận Tết năm ngoái bị mất sạch. Bữa đó chị sắp về quê nên gom hết tiền giấu trong người. Chẳng ngờ, trong một lần đi bán hàng đêm, chị bị một nhóm thanh niên nghiện ma túy trấn lột sạch.
Nhọc nhằn kế sinh nhai
Làng “Ngô Luộc” (người phương Nam gọi là “bắp luộc”) nằm trong một con hẻm sâu hun hút, tối tăm, sát mép một dòng kênh đen ở khu Bà Quẹo. Đó là hai dãy nhà cấp bốn quay mặt vào nhau, mỗi căn phòng rộng chừng vài chục mét vuông, mỗi phòng ở từ 6 đến 8 người. Dân số của “làng” dao động theo mùa. Thời điểm tôi đến, ở đây có gần 50 người, đủ các thành phần: thanh niên học hết THPT, bộ đội xuất ngũ, những nông dân đã luống tuổi... Có người làm hết năm này qua năm khác như Chiến. Cũng có trường hợp chỉ tranh thủ lúc mùa màng nông nhàn kiếm thêm thu nhập. Buổi sáng mỗi ngày, cả làng đạp xe ra huyện ngoại thành Củ Chi mua ngô, khoai của nhà nông đem về chế biến. Cuối buổi chiều bắt đầu rong ruổi khắp các hang cùng ngõ hẻm ở nội thành đi bán rong. Mùa này chủ yếu là khoai lang. Ra giêng hai trở đi thì mặt hàng chủ lực là ngô. Với những người như anh em Chiến, Minh, cuộc sống có vẻ đơn giản hơn. Những người có gia đình riêng thì phức tạp hơn nhiều. Vợ chồng anh chị Sơn – Hà là một ví dụ. Năm 1999, Sơn cưới Hà. Sống với nhau được vài tháng thì Sơn theo người quen vào làm ăn. Do chưa quen nên làm quần quật một năm trời, nhưng được đồng nào xào đồng đó, Tết đến không có tiền về quê. Chị Hà nghi anh Sơn có “bồ” nên tìm đường vào “làm cho ra nhẽ”. Hiểu rõ sự tình, chị ở lại đi làm ăn với anh. Ngày vợ sinh con, anh Sơn thuê một căn phòng giá 450.000 đồng/tháng. Chị nuôi con, anh đi làm. Phải chắt chiu lắm mới đủ sống. Về sau, không có điều kiện đưa con đi nhà trẻ, chị Hà làm cho con một chiếc ghế ngồi trên xe rồi mang theo con mỗi khi đi làm ăn. – “Bây giờ cháu sắp đến tuổi đi học. Tụi em đang lo không biết nên thế nào?” – chị Hà nói.
Không chỉ ở khu Bà Quẹo, ở các quận: 12, 9, Gò Vấp, Thủ Đức, Tân Phú... cũng có nhiều “làng” như vậy. Bên cạnh những người tập hợp lại thuê nhà ở tập trung, còn một bộ phận lớn ở lẻ tẻ. Họ chọn những khu nhà trọ “bèo” nhất ở các quận ngoại thành cho rẻ tiền. Làm nghề này phải có sức khỏe tốt. Nếu chẳng may bị ốm một trận phải nằm viện là coi như trắng tay. Có nhiều gia đình sau mấy năm bám trụ đất thành phố, phải dắt díu nhau về quê vì đau ốm, không đủ khả năng vào chữa trị tại bệnh viện. Có trường hợp làm ăn khấm khá đâu chẳng thấy, lại vướng vào nghiện ngập, thân tàn ma dại.
Chưa có số liệu thống kê chính thức lượng người nhập cư vào Thành phố Hồ Chí Minh làm nghề bán hàng rong, song con số này là không hề nhỏ. Về mặt quản lý xã hội, sự gia tăng của lực lượng này là một trong những tác nhân gây khó khăn cho công tác quản lý nhân khẩu, bảo đảm an ninh trật tự đô thị. Gánh nặng dân số của thành phố vốn đã quá tải lại càng thêm quá tải. Giải quyết vấn đề này là một bài toán khó muôn thuở. Khi sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn càng lớn thì sự quá tải của dân số đô thị càng cao.
Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang xúc tiến nhiều chương trình hướng đến nâng cao đời sống người nghèo, trọng tâm là chương trình nhà ở cho người thu nhập thấp. Tuy nhiên, người nhập cư, tạm trú không thuộc đối tượng này.
Với một đô thị văn minh, không ai muốn xuất hiện những hình ảnh nhếch nhác của đội ngũ những người bán hàng rong cùng những khu nhà “ổ chuột” mà họ chọn làm nơi trú ngụ. Nhưng bức tranh phố phường cũng sẽ thật đơn điệu nếu vắng đi tiếng rao, tiếng gõ lốc... cốc, lách... cách của những người bán hủ tíu dạo, bán ngô luộc, khoai nướng... hằng đêm. Trong một lần tiếp xúc tôi được nghe nhà văn, nhà bộ học Sơn nói: “Cái đẹp của Sài Gòn xưa và Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay là sự hòa quyện giữa vẻ hào nhoáng, sang trọng với cái sâu lắng, giản dị. Những ánh lửa le lói từ cái bếp than hồng của người bán hàng rong không chỉ làm cho đêm nồng nàn chất thơ, mà nó còn thức dậy trong tâm khảm con người đô thị biết bao điều về nhân tình, ân nghĩa...”.
Xin lấy lời tâm sự của chị Trần Thị Kim Hoàn, quê Quốc Oai, Hà Tây, một trong những người có thâm niên làm nghề bán ngô luộc, khoai nướng lâu nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh làm một lời nhắn: “Chỉ nên coi nghề này là giải pháp tình thế giải quyết nhu cầu cuộc sống trước mắt. Chớ dại mà đem cả gia đình, vợ con đi theo”.
PHAN TÙNG SƠN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận