Đến thăm Bảo tàng các chiến sĩ cách mạng bị bắt và tù đày tại thôn Nam Quất, xã Nam Triều, Phú Xuyên, Hà Tây của ông Lâm Văn Bảng và những đồng chí của mình, nhiều người xem đã thật sự xúc động. Vượt qua đòn tra tấn tàn khốc của địch, phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng vẫn ngời sáng...
![]() |
|
Ông Lâm Văn Bảng (ngoài cùng bên trái) cùng ban cán sự bảo tàng |
Đến thăm Bảo tàng các chiến sĩ cách mạng bị bắt và tù đày tại thôn Nam Quất, xã Nam Triều, Phú Xuyên, Hà Tây của ông Lâm Văn Bảng và những đồng chí của mình, nhiều người xem đã thật sự xúc động. Vượt qua đòn tra tấn tàn khốc của địch, phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng vẫn ngời sáng.
Bảo tàng có nhà trưng bày giới thiệu hơn 2.000 hiện vật là kỷ vật, dụng cụ lao động, đồ dùng cá nhân của các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt và tù đày tại các trại giam Phú Quốc, Hỏa Lò, Côn Đảo, Lao Thừa Phủ (Thừa Thiên-Huế)... Sau hơn hai năm hoạt động như một nhà truyền thống, giữa tháng 11 vừa qua, UBND tỉnh Hà Tây đã ra quyết định số 1711/QĐ-UBND cho phép thành lập bảo tàng tư nhân này. Đây là bảo tàng tư nhân đầu tiên của tỉnh Hà Tây.
Câu chuyện từ kỷ vật
Ông Lâm Văn Bảng kể: “Khoảng năm 1980, tôi lúc đó đã xuất ngũ, đang làm công nhân cầu đường. Ở ngã ba Cầu Giẽ chúng tôi đào được một quả bom lép. Tôi lấy vỏ quả bom này làm kẻng. Giờ giải lao, mọi người thường hay quây quần nói chuyện, lại lấy chiếc “kẻng “bom” ra làm đề tài tán gẫu. Mỗi người một chuyện vụn vặt, nhưng lúc đó trong đầu tôi đã hình thành ý tưởng lưu giữ những vật chứng chiến tranh rồi nên chú tâm ghi lại”. Với vốn liếng là hàng trăm câu chuyện về những kỷ vật chiến tranh, ông Bảng đã cùng đồng đội lên đường sưu tầm, vận động mọi người đóng góp hiện vật cho nhà truyền thống. Đó là vào những năm 80 của thế kỷ trước.
Tấm ghi sắt quây “chuồng cọp” rộng 29 mét vuông từng là nơi giam giữ 100 tù nhân trại A2 nhà lao Phú Quốc. Một trăm con người trong lồng thép, chịu cái nắng đổ lửa của miền nhiệt đới, chịu cái rét của sương giá mưa đêm miền rừng núi hoang đảo. Tấm ghi đã trải qua hành trình khá dài để về tới bảo tàng. Ông Nguyễn Trọng Dư đã mang tấm ghi sắt đó trên tàu biển, tàu hỏa, rồi lại lên ô tô vượt qua quãng đường dài hàng nghìn cây số. Trên đường đi nhiều người ngỡ ông là người buôn đồng nát mới vào nghề. Ông cười chỉ vào tấm ghi sắt nói: “Vàng tôi cũng không đổi. Và nếu ai biết câu chuyện của nó thì cũng sẽ làm như tôi”.
Cũng có người gửi kỉ vật của mình cho bảo tàng. Bức thư của ông Nguyễn Văn Hà gửi kèm theo lá cờ Đoàn được thêu trong trại giam Phú Quốc, có đoạn viết: “Cờ Đoàn là một kỷ niệm sâu sắc trong đời tôi. Là minh chứng cho những năm tháng thầm lặng trong tù… Phía trước là kẻ thù tàn bạo-Phía sau là đồng đội trung kiên bất khuất đau thương. Anh hãy bảo vệ dấu tích về một thời quá khứ đáng nhớ của chúng ta”.
Còn nhiều kỷ vật nữa, như tấm khăn thêu dòng chữ “Quay nhìn kỷ niệm đời vui mãi; quyết nghị kết nạp đảng viên mới", hay chiếc kim khâu làm từ dây thép gai, chiếc chăn được vá từ hàng trăm mảnh vải, cuốn sổ tay, chiếc xẻng, chiếc búa, cây kéo, chiếc roi da, thùng đất… Những hiện vật đó đã kể câu chuyện về tình đồng chí, về ý chí bất khuất của những người chiến sĩ cách mạng.
Câu chuyện của nhân chứng
Nhớ lại những ngày tháng vất vả giữa thập kỷ 80 thế kỷ trước, chị Lâm Thị Thu Huyền, con gái của ông Lâm Văn Bảng, kể: “Bố tôi là thương binh, nhiều mảnh đạn còn găm trong người. Lúc trái gió trở trời rất đau… Nhưng cứ có chút thời gian rỗi rãi là ông lại lọc cọc đạp xe đi tìm hiện vật. Mọi người ngăn cản, cụ gạt đi nói: Bây giờ không đi sưu tầm, sau này sợ rằng chẳng còn nữa”.
Với một chiếc xe đạp cũ, ông lên Phú Thọ, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nội… móc nối cùng những người lưu giữ kỷ vật. Nhiều lần xe hỏng giữa đường, phải ngủ nhờ nhà dân. Bất kỳ ai khi nghe kể chuyện đi tìm kỷ vật chiến trường của ông cũng đều đồng tình ủng hộ. Lòng kiên trì đầy thành tâm của ông đã được đền đáp. Bạn bè, đồng chí, đồng đội mỗi người một chút ghé vai san bớt gánh nặng của ông. Người ủng hộ hiện vật, người ủng hộ tiền, người cho chỉ dẫn… tất cả đều thật quý đối với ông.
Động lực nào giúp người thương binh đi tìm những kỷ vật của một thời quá khứ? Ông Lâm Văn Bảng kể: “Tôi nguyên là chiến sĩ đặc công nước, chiến đấu ở chiến trường miền Đông Bộ. Đợt Mậu Thân 1968, trong trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất, tôi bị thương. Tỉnh dậy thì đã bị địch bắt rồi. Một kỷ niệm tôi không bao giờ quên ở trại giam Phú Quốc là khi người đồng chí, người bạn đồng hương Dương Bá Ngải bị địch tra tấn đến chết. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, đồng chí nhờ tôi về báo với Đảng, với gia đình là đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ. Tôi đã làm bảo tàng này không chỉ để hoàn thành tâm nguyện của đồng chí Ngải mà còn muốn mọi người hiểu thêm về những chiến sĩ cách mạng bị tù đày đã sống và đấu tranh như thế nào”.
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, với tài tháo vát, cần cù, tay nghề thợ mộc cao cộng với đức tính quyết đoán của một người lính đặc công, ông Lâm Văn Bảng nhanh chóng xây dựng đời sống kinh tế gia đình trở nên khấm khá. Nhưng việc ông dành cả khu đất rộng 1600 mét vuông để làm bảo tàng trong thời đất đai lên giá quý hơn vàng khiến nhiều người làng Nam Quất "khó hiểu". Chỉ đến khi được tận mắt chứng kiến những hiện vật trong bảo tàng “Chiến sĩ cách mạng bị bắt và tù đầy” mọi người bỗng chợt hiểu và thêm yêu, thêm quý người thương binh già.
Để có được 2000 hiện vật như ngày hôm nay, không chỉ có riêng những nỗ lực sưu tầm của ông Lâm Văn Bảng mà còn nhiều đồng chí, đồng đội luôn kề vai sát cánh bên ông. Gần 20 “nhân viên bảo tàng” là thương binh, cán bộ hưu trí, nông dân, thợ thủ công… suốt 20 năm trời làm việc theo bốn phương châm: Tự nguyện, tự túc, tự quản và tự chịu trách nhiệm. Trong đó có những con người như các ông Chu Hữu Ngọc tự bỏ tiền trợ cấp thương tật ra mua vé tầu vé xe, đi hàng vạn ki-lô-mét đường sưu tầm hiện vật; Nguyễn Trọng Dư cất công đi từng nhà tù xưa để tìm kiếm đồng đội cũ, tìm nguồn tài liệu; cụ Lâm Văn Quần hiến nhà cửa để xây dựng bảo tàng… Ban cán sự bảo tàng có độ tuổi trung bình trên sáu mươi, nhưng khi bắt đầu xây dựng bảo tàng, nhiều người vẫn hăng hái xắn tay cùng thanh niên xây, trát, quét vôi ve. Người nào yếu hơn lo việc “hậu cần” cơm nước, quét dọn… Thăm bảo tàng, chúng tôi hiểu chí khí chiến đấu, nghĩa tình đồng đội và trách nhiệm với quá khứ đau thương mà oanh liệt đã biến thành sức mạnh giúp những người cựu chiến binh già vượt qua nhiều gian khó mới có được thành quả lớn hôm nay.
Hiện nay, bảo tàng “Chiến sĩ cách mạng bị bắt và tù đày” đang thu hút rất nhiều khách ghé thăm. Có sự cộng hưởng của những tấm lòng đồng bào, đồng chí gần xa, chắc hẳn số lượng hiện vật, hình ảnh trong Bảo tàng sẽ càng thêm phong phú.
Bài và ảnh: LÊ ĐÔNG HÀ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận