Chủ Nhật, 03/09/2006, 13:28

    “Rô-bin-xơn” trên vùng Đông Bắc

    Dĩ nhiên, đó không phải là chàng Rô-bin-sơn huyền thoại gần 60 năm lưu lạc một mình gây dựng cuộc sống trên hoang đảo mà ta vẫn được nghe kể, xem phim, đọc truyện. “Rô-bin-sơn” mà tôi đề cập trong phóng sự này là những người lính ở các lâm trường quân đội. Họ đang có mặt tại vùng biên giới Đông Bắc xa xôi-để làm công việc của những điền nông, ngư phủ...

    Dĩ nhiên, đó không phải là chàng Rô-bin-sơn huyền thoại gần 60 năm lưu lạc một mình gây dựng cuộc sống trên hoang đảo mà ta vẫn được nghe kể, xem phim, đọc truyện. “Rô-bin-sơn” mà tôi đề cập trong phóng sự này là những người lính ở các lâm trường quân đội. Họ đang có mặt tại vùng biên giới Đông Bắc xa xôi-để làm công việc của những điền nông, ngư phủ...

    Lặng lẽ đội chăn bò...

    Chiều đã buông, đại úy Hoàng Xuân Hưng, người dân tộc Tày, trợ lý chính trị lâm trường 42, tỏ vẻ ái ngại khi biết tôi quyết định vào thăm khu chuồng bò. Anh bảo: “Đường khó đi, anh ngồi xe cho vững kẻo bị văng xuống vực đấy. Giờ này chắc bò đã về chuồng”.

    Nếu tính một cách vòng vo, cơ học, thì từ Hà Nội theo quốc lộ 18 lên thị xã Móng Cái (Quảng Ninh) dài hơn 300 ki-lô-mét, rồi rẽ trái, men ngược dòng Ka Long khoảng 15 cây số trên tuyến đường vành đai biên giới sẽ tới “đại bản doanh” của lâm trường 42 (thuộc Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327). Từ đây vào khu chuồng bò còn chưa đầy 10 ki-lô-mét nhưng đó lại là đoạn “xương” nhất. Chiếc xe máy hiệu Dream đã cũ mà đại uý Hưng mượn đèo tôi cứ oằn lên, ngụp xuống mỗi khi vào cua, tiếng lốp “nghiến” mặt đường lựt phựt... Có lẽ vì muốn đưa tôi đến nhanh nên chàng sĩ quan người dân tộc này phóng “ẩu” một cách hết sức điệu nghệ! “Đường bây giờ trải đá nên khá hơn trước nhiều rồi. Trước đây, vào khu chuồng bò thường phải đi bộ. Mùa mưa, nước suối dâng cao, ngầm bị ngập thì có thánh cũng không qua nổi”. Vừa vặn ga, giữ lái, đại úy Hưng vừa oang oang nói với tôi trong cái thinh không của núi rừng đại ngàn. Thoảng chốc, tôi lại gặp những chú bé người Dao, người Sán Chỉ lùa trâu, bò ngược trở ra, tiếng mõ khua khô khốc làm cho dáng chiều biên giới càng trở nên hưu quạnh...

    Cũng phải nói sơ qua để bạn đọc dễ hình dung. Lâm trường 42 (trước đây là Đoàn kinh tế-Quốc phòng Bắc Hải Sơn) đứng chân trên vùng biên giới Đông Bắc để thực hiện công cuộc khai hoang phục hoá, tiến hành sản xuất nông-lâm nghiệp, giúp dân xoá đói giảm nghèo, từng bước bố trí lại các điểm dân cư. Lâm trường có nhiều đội sản xuất, trong đó có đội chăn nuôi mà tôi đang đến. Việc này không nhằm mục đích kinh doanh hoặc bổ sung nguồn thực phẩm, mà là để cấp cho nhân dân, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình.

    Gần 6 giờ chiều thì tới nơi. Sau cú cúi người xốc ga, đại uý Hưng lạng xe vào chân một quả đồi rồi đưa tôi lên trại. Khu chuồng bò nằm tại bản Cao Lan, thuộc xã Bắc Sơn (Móng Cái - Quảng Ninh), được xây dựng khá quy mô. Nơi đây không có một bóng nhà dân và hoàn toàn cách biệt với thế giới văn minh. Chỗ ở của đội chăn nuôi là ngôi nhà cấp 4 cách chuồng bò khoảng 200 mét, được trang bị giường, tủ, bàn, ghế... Cả đội có năm người, toàn là sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp. Hôm tôi đến, đội chỉ có ba người ở nhà.

    Thiếu tá Vũ Văn Nên, đội trưởng và trung tá Phạm Hữu Phiến, đội phó chính trị vừa từ chuồng bò trở về. Gặp tôi, các anh vui như đón người thân. Khi chủ và khách đã bén tiếng, tôi mạo muội hỏi:

    - Làm quản lý nhưng chủ yếu là với… trâu, bò, các anh có suy nghĩ gì không?

    Trung tá Phiến trả lời trước:

    - Thực ra, là chỉ huy nhưng chúng tôi phải làm tất cả mọi công việc như anh em khác. Mới đầu cũng cảm thấy hơi mặc cảm, tự ti, nghĩ rằng mình là sĩ quan có số hẳn hoi, bỗng dưng trở thành cái anh chăn bò. Nhưng sau cũng xác định, việc nào chẳng là nhiệm vụ. Chúng tôi đã tìm thấy niềm vui trong công việc ở cái vùng thâm sơn cùng cốc này. Trước, tôi làm trợ lý kỹ thuật của lâm trường, mới vào đây được hơn một năm. Còn anh Nên thì có mặt ngay từ những ngày đầu...

    Đội trưởng Vũ Văn Nên có nước da màu đồng hun, khuôn mặt thật hiền. Anh quê ở Đặng Lễ, Ân Thi (Hưng Yên), đã 23 năm trong quân ngũ, từng tốt nghiệp trường Sĩ quan Lục quân 3 (cũ), rong ruổi trên nhiều miền quê, đến năm 1999 thì theo lâm trường lên đây với chức vụ đội trưởng Đội chăn nuôi. Anh kể rằng, ngày ấy, khu trại bò còn heo hút lắm, chưa có điện, không có nước sạch, lán trại dựng tạm, thực phẩm, nước uống phải đem từ ngoài vào. Gặp đợt lũ về cắt đường tiếp phẩm, nhiều bữa anh em phải ăn cơm với muối trắng. Ngày ngày, mọi người thay nhau đi chăn bò. Thường thì vào mùa khô, cỏ ít, các anh phải lùa bò vào sâu trong rừng, đến khi “thu quân” về trại cũng 8-9 giờ tối, lúc ấy mới tắm rửa, ăn cơm. Có năm, mùa đông, nhiệt độ xuống thấp, cả đội thay nhau đốt củi sưởi ấm cho bò. Đàn gia xúc được ấm, còn các anh vẫn lạnh thấu xương. Hơn 7 năm nay, người đội trưởng Vũ Văn Nên vẫn làm việc tại đây, trong đó có đến 4 năm tình nguyện ở lại ăn Tết cùng… đàn bò. Mùng 1 tết, khi các gia đình râm ran đoàn tụ bên mâm cỗ cúng gia tiên, thì anh lặng lẽ lùa đàn bò đi chăn.

    Nỗi gian nan vất vả có thể chịu đựng được, nhưng sự thiếu thốn tình cảm thì không phải ai cũng dễ cầm lòng. Viết tới đây, tôi bỗng nhớ lại lời kể của đại tá Nguyễn Đức Mạnh, Tham mưu trưởng, Phó đoàn trưởng Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 327: “Ngày còn làm giám đốc lâm trường 42, một đêm đông, khi xuống kiểm tra khu trại bò, tôi bỗng nghe thấy tiếng nấc ầng ậc rất khẽ phát ra trong màn. Lại gần, té ra một đội viên vì quá nhớ nhà, tủi thân nên trùm chăn để… khóc. Tôi cao giọng: “Cậu nào không chịu đựng được thì viết đơn đi, tôi đề nghị lên trên cho ra quân”. Làm chỉ huy, lúc cần thiết thì nói rắn vậy, chứ nghĩ lại thấy thương anh em vô cùng. Nói thật, nếu không kiềm chế thì chính tôi cũng sẽ bật khóc…”.

    Cuối cùng thì không có người nào viết đơn. Sáng ra, họ lại vui vẻ lùa đàn bò vào rừng. Sự lao động lặng thầm của những người lính lâm trường 42 đã đem lại kết quả đáng khích lệ. Đàn gia xúc chăm ăn, chóng lớn, sinh sản đều đều... Hiện nay, lâm trường đã có đàn trâu, bò hàng trăm con, 52 con bò giống đã cấp cho các hộ di dân “làm vốn”. Tôi bỗng vẩn vơ nghĩ, những người lính chăn bò giống như nhân vật huyền thoại “Rô-bin-sơn” năm xưa, vẫn lặng lẽ gây dựng cuộc sống trên vùng dẻo cao hoang vắng. Nhưng cao đẹp hơn, đó là họ sẵn sàng làm chàng “Rô” một cách chủ động, tự nguyện, với nghị lực phi thường để đóng góp sức mình vào công cuộc xoá đói giảm nghèo trên miền biên cương xa xôi…

    Kỳ diệu: Đảo Tổ chim!

    Nếu như những “Rô-bin-sơn” ở lâm trường 42, dù có xa xôi, hoang vắng nhưng vẫn là làm việc trên đất liền, thì “Rô-bin-sơn” ở lâm trường 27 (cũng thuộc Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 327) mới thực sự là những người lăn lộn trên hoang đảo.

    No image available

    Những lán trại cũ trên đảo Tổ Chim

    Đảo có tên gọi là Tổ Chim. Không biết trước đây trên đảo nhiều chim nên người ta gọi thế, chứ khi tôi ra chim thì không có, chỉ toàn thấy muỗi, dĩn đốt người. Trên đảo có một chi bộ Đảng với năm đảng viên do thiếu tá Phạm Quốc Bảo làm bí thư chi bộ. Hôm tôi đến, thiếu tá Phạm Văn Thùy, đội trưởng Đội nuôi trồng thủy sản cũng vừa công tác từ đất liền ra. “Bây giờ muỗi, dĩn đã ít đi nhiều rồi đấy. Ngày đầu chúng tôi ra đảo, chống chọi với loại côn trùng này thật khổ sở, buổi tối chúng bám đen chân, đốt đau nhói, sau chuyển sang ngứa, có người phát mụn. Mùa hè, chúng tôi phải dùng khói để hun đuổi, vậy mà khi ngủ chúng vẫn bu kín màn, chỉ sơ ý là dính chưởng ngay”. Vừa pha trà thiếu tá Thùy vừa nói với tôi như vậy.

    Đảo Tổ Chim có diện tích 288 hec-ta (bao gồm cả bãi bồi), cách đất liền hơn 3 ki-lô-mét, rất gần với mũi Sa Vĩ (thuộc phường Trà Cổ, thị xã Móng Cái). Chếch về hướng bắc là thôn Lầu Phầu, thị xã Đông Hưng nước bạn Trung Quốc. Thiếu tá Phạm Văn Thuỳ là một trong năm người đầu tiên xung phong ra đảo.

    Rót xong chén nước mời tôi, đội trưởng Thùy tâm sự:

    - Tôi cũng muốn thử sức mình ở cái nơi khắc nghiệt này xem sao. Ngày đầu, trên đảo chưa có nhà, không có điện, nước ngọt, thiếu rau xanh, chúng tôi phải căng bạt, dựng lán để ở. Mùa nắng, trong lán nóng hầm hập như chiếc nồi hơi. Mùa đông thì rét thâm môi, xám mặt. Nhưng khổ nhất là khi có mưa bão. Tiếng là gần đất liền nhưng đảo Tổ Chim là nơi hứng gió. Có lần bão cuốn phăng cả lều bạt, đang đêm anh em phải chạy quanh, ướt lút thút. Nói anh thông cảm, chính tôi từng chui cả xuống gầm giường tránh bão đấy!

    Sự khắc nghiệt về thời tiết và nỗi gian nan, vất vả không làm cho các anh nhụt chí, họ vẫn kiên cường bám trụ. Mọi người bảo nhau khai hoang, vỡ đất trồng rau, màu trên đảo, đào đắp, giăng lưới bắt tôm, nuôi sò dưới bãi bồi... Và sức sống mới đã từng bước hồi sinh trên hoang đảo. Dẫn tôi đi một vòng, thiếu tá Phạm Văn Thuỳ hồ hởi khoe:

    - Anh nhìn kìa! Chúng tôi đã khoanh vùng thả được 1,7 hec-ta sò dưới bãi bồi, nuôi được hai con bò giống, trồng được hơn 1.000 mét vuông rau muống, rau mùng tơi, mướp, bí… đủ cung ứng cho bữa ăn. Rồi còn trồng cả đậu, lạc, khoai nữa... Nói chung cuộc sống bây giờ cũng tạm ổn!

    Đảo Tổ Chim giờ đây đã có một tuyến đường nối với đất liền, có điện thắp sáng, có giếng khoan nước ngọt. Anh em công tác trên đảo đã được sống trong căn nhà xây kiên cố, được trang bị ti vi, đầu đĩa, đầu vi-đê-ô, quạt điện… Cuộc sống không còn khoảng cách quá xa với đất liền. Từ ngày có các anh, người dân trong đất liền đã từng bước ra bãi bồi, xuống khu vực giáp ranh khai thác hải sản... Thượng tá Khổng Trọng Lương, chính trị viên lâm trường 27, người cùng tôi ra đảo bữa đó, nói rằng: Lâm trường đã xây dựng kế hoạch, thời gian tới sẽ phấn đấu đưa hơn 40 hộ dân ra đảo sinh sống, quyết tâm biến đảo Tổ Chim thành một khu vực phát triển kinh tế, đặc biệt là thế mạnh về lĩnh vực nuôi trồng, đánh bắt hải sản, tham quan, du lịch - Rồi thượng tá Lương khua rộng vòng tay ra hướng biển: “Nếu như thời gian tới được trên đầu tư, đắp một tuyến đê từ khu kinh tế - quốc phòng Lục Lầm, vòng qua bãi bồi, rồi nối với mũi Sa Vĩ, thì toàn bộ khu đảo Tổ Chim sẽ trở thành vùng đặc dụng nuôi trồng thuỷ sản. Hiện nay, một tổ đội thanh niên xung phong của tỉnh Quảng Ninh và một số công ty tư nhân đã xúc tiến việc nuôi trồng thủy sản trên khu vực này. Nói chung, tương lai tại đảo Tổ Chim là rất triển vọng và nhiều tiềm năng”.

    Đi bên những luống rau xanh, ngắm nhìn khu đầm nuôi trồng hải sản rộng mênh mông dưới nắng gió yên bình nơi cửa biển, tôi hiểu rằng: Đó chính là nhờ công sức của cán bộ chiến sĩ lâm trường 27. Dẫu mới chỉ là kết quả bước đầu, song những gì mà tôi chứng kiến đã nói lên sự đổi thay kỳ diệu trên đảo Tổ Chim-nơi địa đầu tổ quốc!

    Đoạn kết

    Khi đã về Hà Nội, trong tôi vẫn đọng mãi hình ảnh những người lính lâm trường đang âm thầm lao động ở vùng biên địa xa xôi. Họ thật bình dị, vô tư, chẳng nỡ phàn nàn, kêu ca điều gì... Nhưng tôi biết, có một ý nguyện mà trung tá Phạm Văn Hiểu, chính trị viên lâm trường 42, phải đắn đo lắm mới dám nói ra: “Từ tháng 10 năm 2004, sau khi thực hiện chế độ lương mới, thì số anh em công tác trong các lâm trường quân đội bị cắt khoản phụ cấp 30% dành cho những khu vực đặc biệt. Điều đáng nói là trên cùng địa bàn nhưng có đơn vị lại vẫn được hưởng. Chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị chưa được giải quyết. Mong rằng vấn đề này nên được thực hiện công bằng để anh em đỡ thiệt thòi.

    Tôi xin chuyển ý nguyện của những cán bộ chiến sĩ đoàn Kinh tế quốc phòng ở vùng Đông Bắc-tới các cơ quan chức năng thay cho lời kết của phóng sự này.

    LÊ THIẾT HÙNG(Tháng 8-2006)
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...