Thứ Bảy, 20/10/2007, 22:28

    Sống mãi tuổi xuân

    Tôi còn nhớ mãi những năm tháng chiến đấu gian khổ ở chiến trường Tây Nguyên trong đội hình đoàn B20 thân yêu. Nơi đó có biết bao đồng đội đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc...

    No image available

    Thầy, trò học sinh trường THPT Hoàng Hoa Thám (TP Plei-cu) dâng hương tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ của Đoàn B20 tại nhà tưởng niệm

    Tôi còn nhớ mãi những năm tháng chiến đấu gian khổ ở chiến trường Tây Nguyên trong đội hình đoàn B20 thân yêu. Nơi đó có biết bao đồng đội đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc, trong đó có những đồng đội mà sự hy sinh của các anh đã in đậm trong tâm trí tôi những ấn tượng không thể phai mờ.

    Trung úy Đỗ Văn Bảy-đại đội trưởng đại đội 1 tiểu đoàn 16 súng máy cao xạ 12,7mm. Anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Non, xã Xương Giang, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tháng 10-1949, khi anh mới chào đời được tròn một tháng thì cha anh-ông Đỗ Văn Thản bị giặc Pháp bắn chết trong một trận càn quét vào làng. Anh lớn lên trong những tháng ngày lam lũ của mẹ và sự cưu mang đùm bọc của xóm làng. Tháng 10-1966, vừa tròn 17 tuổi, nối gót người anh kế, anh tình nguyện nhập ngũ để được vào chiến trường chiến đấu. Trên chiến trường Quảng Trị, anh đã cùng đơn vị tham gia nhiều trận đánh nảy lửa với quân Mỹ ở Cù Đình, Ba De, ở Cam Lộ trong chiến dịch Tết Mậu Thân, tiếp đó ở Gio Linh, Cửa Việt và Đường 9-Nam Lào. Tháng 8-1971, anh được bổ nhiệm Đại đội trưởng và cùng đơn vị vào chiến đấu ở Tây Nguyên.

    Trong trận mở màn chiến dịch Xuân-Hè 1972, đại đội 1 được giao phối thuộc với trung đoàn 52 vây ép tiểu đoàn 2 lữ đoàn dù 2 ngụy ở cao điểm 1049. Dự đoán được sự ác liệt của trận đánh, cấp ủy và ban chỉ huy đại đội thống nhất: Anh-đại đội trưởng sẽ đi cùng trung đội 2 tăng cường cho tiểu đoàn 5 ở hướng chủ yếu. Chính trị viên Nguyễn Văn Nấp đi với trung đội 1 của chúng tôi phối thuộc với tiểu đoàn 4 ở phía nam. Đúng như dự định, trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Sau 4 giờ vây ép mạnh, 3 giờ sáng ngày 3-4, trung đoàn 52 được lệnh tiến công. Mặc dù pháo chiến dịch chưa vào kịp, với hỏa lực bản thân, tiểu đoàn 5 và 6 đã chiến đấu rất kiên cường, người trước ngã người sau tiến lên. Sau 3 giờ chiến đấu ác liệt, các mũi chủ yếu của hai tiểu đoàn đã gặp nhau và làm chủ trận địa. Quân địch tháo chạy về phía sau. Nhưng do lực lượng còn đông nên chúng tập hợp lại gọi hỏa lực phi pháo đánh lên điểm cao rồi tổ chức chiếm lại. Quân ta đành phải lui dần về tuyến xuất phát. Trong khi đó ở phía bắc điểm cao, trận địa 12,7mm do anh chỉ huy vẫn bắn mãnh liệt vào đội hình địch và khống chế máy bay yểm hộ đắc lực cho bộ binh. Bọn địch vô cùng tức tối đã cho một tốp 3 chiếc AD6 đến đánh liên tiếp 9 đợt bom xuống trận địa. Nhưng các khẩu đội vẫn nhằm thẳng quân thù nhả đạn và bắn rơi tại chỗ một máy bay. Song do lực lượng ít lại bị bắn phá dữ dội nên sau đó tiếng súng thưa dần và bộ binh địch ào lên trận địa. Trừ một số ít đồng chí lùi được về tuyến sau, còn lại đều hy sinh. Khi quân ta chiếm lại được điểm cao, đến trận địa, chúng tôi thấy anh nằm sấp trên vũng máu trước cửa hầm chỉ huy, người nhô ra phía trước ở tư thế chiến đấu, tay vẫn nắm chặt khẩu AK đã hết đạn. Chúng tôi vô cùng đau xót. Trước lúc vào trận đánh, anh còn đến từng trung đội căn dặn: "Trận này ác liệt đấy, nhưng phải quyết đánh thắng nhé!". Không ngờ đó lại là những lời dặn dò cuối cùng của anh đối với chúng tôi…

    Cho đến bây giờ, tôi vẫn không sao quên được gương mặt tươi trẻ và sự hy sinh thanh thản của binh nhất Vũ Minh Tiến quê ở Tiền Hải, Thái Bình. Sinh ra ở quê lúa, lớn lên bằng những hạt gạo, củ khoai, một nắng hai sương của mẹ, những ngày còn đi học, Tiến mơ ước sau này trở thành kỹ sư nông nghiệp để giúp quê hương đưa năng suất cây lúa lên cao. Tháng 5-1971, tốt nghiệp cấp 3, Tiến đã đăng ký thi vào Trường đại học Nông nghiệp I. Nhưng thời điểm đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đang diễn ra gay go quyết liệt, Tiến đã quyết định gác lại ước mơ, xung phong vào bộ đội và cuối năm đó anh được bổ sung vào đơn vị chúng tôi. Trong các trận chiến đấu ác liệt ở phòng tuyến bờ tây sông Pô Cô, ở thị xã Kon Tum, trong chiến dịch Xuân-Hè 1972 và tiếp đó là ở đường 14, đường 19 (Gia Lai) anh luôn xông xáo, linh hoạt, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh là người sống lạc quan, rất mực chân tình, trong điều kiện chiến đấu gian khổ khó khăn ác liệt là vậy, nhưng những lúc có điều kiện anh vẫn ghi chép và làm thơ rồi đọc cho anh em nghe. Chiều ngày 26-1-1973, đơn vị được giao phối thuộc với trung đoàn 48 tiêu diệt đồn 30-Thanh Giáo trên đường 19. Ngay sau khi quân ta làm chủ mục tiêu, quân địch đã cho máy bay đến giội bom hủy diệt căn cứ. Trận địa 12,7mm của chúng tôi ở phía đông liền phát huy hỏa lực. Phát hiện được trận địa ta, địch đã điều một tốp 3 chiếc A37 đến đánh phá. Một quả bom rơi sát công sự pháo của khẩu đội 3, lửa bốc cháy ngùn ngụt, một số đồng chí đã bị thương. Các khẩu đội vẫn tập trung bắn mãnh liệt hất máy bay địch lên cao. Đang ở vị trí chốt bảo vệ trận địa, thấy ở khẩu đội 3 bốc cháy, Tiến vội lao đến để cứu đồng đội. Nhưng một mảnh bom bằng nửa bàn tay đã cắm phập vào ngực trái của anh. Anh em vội đưa Tiến về hầm băng bó. Trong cơn mê sảng, Tiến thều thào: "Các anh đưa em đi đâu thế này. Cứ để em ở đây, mắc cho em cái võng dưới bóng cây râm mát này là được rồi…". Ít phút sau, Tiến tắt thở…

    Trong trận tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 82 biệt động quân ở căn cứ Làng Siêu (Gia Lai), tôi lại được chứng kiến một đồng đội đã chiến đấu, hy sinh vô cùng anh dũng, đó là trung đội trưởng Bế Văn Thành dân tộc Tày, thuộc đại đội 3 trung đoàn 48, sinh năm 1946, nhập ngũ năm 1966 quê ở Hồng Quang (Quảng Hòa, Cao Bằng). Anh đã tham gia hàng chục chiến dịch, hàng trăm trận đánh ở Quảng Trị, Nam Lào, Tây Nguyên… 5 giờ 45 phút ngày 15-4-1974, sau đợt bắn phá dữ dội của các loại hỏa lực pháo, cối, ĐKZ, 12,7mm của ta vào căn cứ Làng Siêu, từ hai hướng các chiến sĩ bộ binh đồng loạt xung phong. Đại đội 3 tiểu đoàn 1 làm nhiệm vụ đột phá ở hướng chủ yếu. Ngay sau loạt bộc phá liên kết nổ hất tung 4 lớp hàng rào, theo lệnh của đại đội, trung đội 8 do Trung đội trưởng Bế Văn Thành dẫn đầu bật dậy lao lên. Bọn địch trong căn cứ sau phút choáng váng đã dùng xe bọc thép và hỏa lực kháng cự quyết liệt. Đạn 12,8mm trên các xe địch bắn ra ken dày bờ tường đất. Xạ thủ B40 đi cùng Thành bắn hai phát liền đều không trúng xe vì vướng bờ tường đất. Bộ đội ùn lại cửa mở, một vài đồng chí đã thương vong. Tình thế thật gay go. Nếu chần chừ, để bộ đội nằm phơi trước cửa mở thế này thì sẽ tiếp tục bị thương vong. Sau giây lát suy nghĩ, Trung đội trưởng Thành liền bảo xạ thủ B40 đưa súng cho mình. Lợi dụng lúc hỏa lực địch tạm ngớt, anh lao lên sát bờ tường đất và bất thần đứng vụt dậy nhằm vào chiếc xe gần nhất siết cò. Chiếc M113 bùng cháy. Những chiếc xe khác thấy vậy vội lùi lại. Bỗng Bế Văn Thành ngã gục xuống. Đồng đội lao lên đỡ anh dậy. Anh nằm lịm trên tay đồng đội, máu ở ngực vẫn xối ra ướt đẫm cả áo. Trên khuôn mặt thoáng nở một nụ cười, rồi anh trút hơi thở cuối cùng.

    Noi gương anh, các xạ thủ B40 đã lao lên lợi dụng bờ tường đất khống chế địch, tạo thuận lợi cho quân ta tiến lên. Biết chắc chắn xông lên là sẽ hy sinh nhưng vì tính mạng của đồng đội, vì thắng lợi của trận đánh, Bế Văn Thành đã không tiếc thân mình và anh đã được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

    Chiến tranh đã lùi xa. Đất nước đang thay da, đổi thịt từng ngày. Hơn 30 năm qua, các anh đã hóa thân vào đất, góp phần mang lại nền độc lập tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Sự hy sinh của các anh là bất tử. Các anh vẫn sống mãi tuổi thanh xuân cùng đất nước non sông.

    NGUYỄN HÙNG TẤN

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...