Thứ Bảy, 16/12/2006, 16:04

    Bài học kháng chiến*

    Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến một vấn đề đặt ra là: Nhân dân ta còn đói ăn, thiếu mặc, vậy phải xây dựng được một nền kinh tế xã hội như thế nào để có thể ăn no, đánh thắng? Bài toán đặt ra đã được Đảng và toàn dân ta giải đáp một cách xuất sắc đem lại thành công...

    Năm nay chúng ta kỷ niệm lần thứ 60 ngày Toàn quốc kháng chiến trong niềm vui thắng lợi của công cuộc đổi mới và những thành công trong ngoại giao kinh tế: Gia nhập WTO và kết quả của Hội nghị APEC lần thứ 14. Trong vui mừng thắng lợi chúng ta cùng nhau ôn lại những bài học lịch sử của cuộc kháng chiến còn cần cho hiện nay. Ngoài những bài học lớn về quân sự, chính trị còn có những bài học về kinh tế xã hội mà trong xây dựng xã hội mới hiện nay cần được khai thác. Nhất là những kinh nghiệm để chúng ta vượt qua khó khăn trước mắt và những khó khăn, thách thức mà Đại hội Đảng lần thứ X vừa qua đã chỉ rõ là:

    “Những năm tới nước ta có cơ hội lớn để tiến lên, tuy khó khăn còn nhiều. Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững hơn”1.

    Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến một vấn đề đặt ra là: Nhân dân ta còn đói ăn, thiếu mặc, vậy phải xây dựng được một nền kinh tế xã hội như thế nào để có thể ăn no, đánh thắng? Bài toán đặt ra đã được Đảng và toàn dân ta giải đáp một cách xuất sắc đem lại thành công.

    Kinh nghiệm lịch sử xa xưa cho thấy: Trong kháng chiến chống Nguyên-Mông thế kỷ 13, nhà Trần đã xây dựng một xã hội vững mạnh, như Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương đã khái quát là: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại mà đánh” nên đã giành đại thắng”. Đến kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân xây dựng một xã hội, trong đó: “Nhân dân ta đã kết thành một khối rắn như đá, vững như đồng… Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ và anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân, chúng ta đã đại thắng”2. Vậy chúng ta đã làm gì để có được khối đoàn kết “Rắn như đá, vững như đồng” giành được thắng lợi cho kháng chiến?

    Trước hết là phải cải thiện đời sống nhân dân

    Để đạt được mục tiêu chung là “Diệt ngoại xâm”, trước hết là phải chăm lo “Diệt đói, diệt dốt”, ba mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra cho thi đua yêu nước là “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”.

    Trách nhiệm trước hết là thuộc về Chính phủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu dân đói là Chính phủ có lỗi. Nếu dân dốt là Chính phủ có lỗi. Còn toàn dân thì thi đua tăng gia sản xuất “Tăng gia sản xuất nhiều, tăng gia sản xuất mãi”. Để diệt đói thì phải: “Cuốc cày là vũ khí, ruộng rẫy là chiến trường”. Ai ai cũng phải sản xuất để quân và dân “ăn no, đánh thắng”. Nhờ vậy mà, từ nhà nông đến nhà khoa học, các nhà văn hóa nghệ thuật mọi người đều chăm lo phục vụ nông nghiệp, dần tiến tới cung cấp đủ ăn, đủ mặc cho nhân dân và quân đội. Những con số về lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh cho thành công kinh tế của chúng ta.

    Thi đua “Diệt dốt” cũng sôi nổi không kém gì “Diệt đói”. Toàn dân tham gia phong trào “Xóa nạn mù chữ”. Nhà nhà lo học, người người lo học. Học trên đồng ruộng, học cạnh chiến trường. Những sáng tạo trong dạy và học vỡ lòng rất lý thú đã đi vào lịch sử “I”, “T” (tờ) giống móc cả hai, I ngắn có chấm, t (tờ) dài có ngang”; Hay “O” tròn như quả trứng gà, “Ô” thời đội mũ”, Ơ “là thêm râu”. Người biết chữ dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít. Chỉ qua hai năm, đã có những huyện, những tỉnh, như tỉnh Thái Bình được công nhận thoát nạn mù chữ.

    Xây dựng nền kinh tế dân chủ-nhân dân

    Thực hiện Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh được đề ra từ Cách mạng Tháng Tám là: Sau khi giành được độc lập phải kiến thiết nên “Tân dân chủ” tức nền “Dân chủ mới” còn gọi là nền “Dân chủ nhân dân” với 4 thành phần kinh tế tương ứng với 4 giai tầng xã hội là: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Điều quan trọng trong xây dựng đời sống xã hội là phát huy tác dụng của các thành phần kinh tế kể trên. Bốn phương châm hoạt động kinh tế được Thủ tướng Phạm Văn Đồng khái quát lại là: Lao động và tư bản đều có lợi! (Lao, tư lưỡng lợi). “Công lợi, tư lợi đều được chiếu cố” (Công tư kiêm cố!). Thành thị và nông thôn hỗ trợ lẫn nhau (Thành hương hỗ trợ)… “Nội thương, ngoại thương đều được lưu thông (Nội, Ngoại giao lưu).

    Kinh tế kháng chiến căn bản là tự cấp, tự túc nhưng được tự do phát triển đã đảm bảo được nhu cầu kháng chiến và sinh hoạt tối thiểu của nhân dân… Chúng ta đã phát huy được tác dụng của một số nhà tư sản dân tộc như Trịnh Văn Bô, Nguyễn Sơn Hà và nhiều trung tiểu tư sản. Đáng kể như ở vùng tự do Liên khu 5, tuy bốn bề bị địch bao vây, phong tỏa nhưng đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân vẫn được bảo đảm… Tự do sáng tạo của nhân dân đã góp phần đáng kể vào việc vượt qua khó khăn về kinh tế xã hội trong kháng chiến.

    Thực hiện “Công bằng xã hội thời chiến”

    Bình diện của công bằng xã hội lúc đó là “Nghĩa vụ ngang nhau, quyền lợi ngang nhau”. Mọi người, không phân biệt gái trai, trẻ, già, giàu nghèo, thành thị nông thôn, miền xuôi miền ngược đều có nghĩa vụ kháng chiến. Mặt khác quyền lợi được hưởng theo sức lao động và cống hiến xã hội của mình, từng bước xóa bỏ bóc lột bất công về kinh tế xã hội. Vì vậy khoảng cách giàu nghèo vùng, miền không lớn, khoảng cách giữa nông dân với địa chủ được giảm dần bằng những biện pháp giảm tô, giảm tức, được Chính phủ ban hành. Do chính sách “Thuế nông nghiệp”, thu theo lũy tiến lợi tức, nhiều địa chủ đã “hiến điền”, được Chính phủ chấp nhận. Vì vậy ruộng đất đã chuyển dịch một phần từ địa chủ, phú nông về tay nông dân lao động.

    Tới cuối năm 1953, Đảng và Chính phủ phát động cuộc đấu tranh giảm tô tiếp theo là cải cách ruộng đất nhằm giải quyết công bằng xã hội trong đời sống kinh tế ở nông thôn. Chính sách này có tác dụng tích cực đến cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là với chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Nét đặc sắc trong đảm bảo công bằng xã hội lúc đó là kiên quyết chống tham nhũng. Vụ án xử tử đại tá Trần Dụ Châu là biểu hiện điển hình của quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ. Đồng thời sự giám sát của toàn dân đối với các ngành kinh tế, hành chính sự nghiệp, quản lý xã hội, đã có tác dụng rất lớn. Trong cuộc sống và chiến đấu đồng cam cộng khổ thì mọi sự tham ô, lãng phí đều khó qua mặt quần chúng. Trong khi mỗi người còn bớt mỗi bữa một nắm gạo bỏ vào “Hũ gạo kháng chiến” thì nạn tham nhũng đã bị đẩy lùi ngay từ trong lương tâm của mỗi người yêu nước. Về phía chính quyền thì… tư pháp và hành pháp kết hợp chặt chẽ và xử lý nghiêm minh, tệ nạn hối lộ móc ngoặc ít xảy ra.

    Có thể kết luận “Dân chủ và công bằng trong kháng chiến” đã được toàn dân chăm lo thực hiện, đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi.

    Xây dựng nền văn hóa kháng chiến

    “Diệt đói”, “diệt dốt” thành công đã tạo điều kiện cho cuộc sống văn hóa nghệ thuật, khoa học từng bước được nâng cao… Xóa nạn mù chữ đi đôi với phát triển bình dân học vụ. Phát triển hệ giáo dục phổ thông 9 năm ba cấp I, II, III, đồng thời với mở một số trường dự bị Đại học. Cùng với giáo dục, văn hóa nghệ thuật và khoa học kỹ thuật cũng từng bước phát triển và nâng cao. Các đại hội văn hóa, văn nghệ toàn quốc, các vụ, cục khoa học kỹ thuật được thành lập rồi đến ban Văn, Sử, Địa trung ương ra đời năm 1953, đánh dấu sự tăng trưởng về giáo dục văn hóa khoa học trong kháng chiến.

    Trí thức cũ được bồi dưỡng và trọng dụng, trí thức mới được đào tạo ngày càng nhiều kể cả việc cho đi đào tạo ở nước ngoài. Những trí thức kháng chiến kiến quốc còn lưu danh đến hiện nay như Trần Đại Nghĩa, Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Huyên, Ca Văn Thỉnh, Lương Đình Của, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Lân, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận… Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã xuất hiện trong trí thức và văn nghệ sĩ.

    Mấy nét lớn kể trên cho phép chúng ta có thể khái quát lại là Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp đã có một cuộc sống đồng cam cộng khổ, dân chủ, công bằng, đoàn kết keo sơn. Tuy mức sống còn là: “Củ khoai củ sắn thay cơm”… “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, nhưng nhiệm vụ lại được chia nhau, thậm chí giành nhau gánh vác.

    Hậu phương chi viện đắc lực cho tiền tuyến, các chiến trường Bắc, Nam, Trung chia lửa với Điện Biên cuộc sống và chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ là sự khái quát hóa đến cao độ cuộc sống và chiến đấu của cả 9 năm kháng chiến cho nên nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Chín năm là một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Cả một xã hội đoàn kết, thân thương, chung sức chung lòng qua 9 năm kháng chiến. Tất cả đã góp phần làm nên một Điện Biên đại thắng.

    Đường lối lãnh đạo đúng đắn sáng suốt của Đảng và vai trò tiền phong gương mẫu, hy sinh chiến đấu của đảng viên đã góp phần quyết định nhất vào thắng lợi. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương những tấm gương đảng viên anh hùng, dũng cảm, hy sinh quên mình, đã nói lên điều đó: “Trong kháng chiến Đảng ta đã có những người con anh hùng, như đồng chí Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, để cho bộ đội tiến lên, đồng chí Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn cho xe khỏi lăn xuống dốc, nhiều đồng chí nhịn đói hai, ba ngày chạy đuổi theo giặc. Những anh hùng ấy… thấm nhuần đạo đức cách mạng của Đảng. Có đạo đức cách mạng mới đoàn kết được quần chúng làm cho cách mạng thắng lợi, kháng chiến thành công”3.

    Ngày nay chúng ta đang ở trong một thế trận mới: Phấn đấu để có được “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Qua hơn 20 năm đổi mới chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn trong cuộc đấu tranh này. Nhưng trước mắt nguy cơ, thách thức còn nhiều. Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn đan xen nhau tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp không thể coi thường thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với quan liêu, tham nhũng lãng phí là nghiêm trọng…”4.

    Trong các nguy cơ, thách thức đó thì nạn tham nhũng, lãng phí vẫn còn trầm trọng, khoảng cách giữa giàu nghèo và sự chênh lệch giữa các vùng miền vẫn còn tồn tại nặng nề.

    Toàn Đảng toàn dân ta đang nỗ lực giải quyết hai khó khăn to lớn và bức xúc này. Bài học chung nhất từ kháng chiến chống Pháp đối với Đảng ta hiện nay là đảng viên phải làm sao đóng được vai trò tiền phong, gương mẫu. Trong kháng chiến chống Pháp, phương châm hành động và đạo đức cách mạng của đảng viên là: Trước khó khăn, nguy hiểm thì đảng viên đi trước, làng nước theo sau. “Đảng viên phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Còn trong hưởng thụ thì đảng viên phải “khổ trước, sướng sau quần chúng”.

    Nhưng hiện nay chúng ta thấy trong các vụ án về tham nhũng, chia chác, hưởng thụ các bất động sản đã và đang xảy ra thì có hiện tượng trái ngược. Có đảng viên dựa vào cương vị, chức vụ… để tranh đoạt quyền lợi không chính đáng, phạm sai lầm nghiêm trọng, làm giảm uy tín của Đảng và hủy hoại thanh danh cách mạng đã phấn đấu suốt cả đời người mới có được.

    Chúng ta tin tưởng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (Khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí cùng với Luật chống tham nhũng, lãng phí sẽ được toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện nghiêm túc nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn nguy hiểm này. Đồng thời về mặt tư tưởng, đạo đức, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra chỉ thị cho toàn Đảng học tập tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

    Với việc hội nhập quốc tế một cách thông minh, sáng tạo đưa đến sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững và với quyết tâm bài trừ tham nhũng, lãng phí, chúng ta tin rằng nhiệm vụ giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo và sự chênh lệch giữa các vùng, miền mà Đảng và Chính phủ đề ra nhất định sẽ đem lại hiệu quả mong muốn. Những bài học lịch sử “Đoàn kết rắn như đá, vững như đồng” trong kháng chiến chống Pháp đang cổ vũ chúng ta đoàn kết đổi mới, quyết tâm chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, chống thoái hóa biến chất về đạo đức, phấn đấu để đạt tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đại hội Đảng đã đề ra.

    GS. VĂN TẠO

    *Đầu đề của Tòa soạn.

    1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Nxb CTQG, H.2006. tr.74-75.

    2. Hồ Chí Minh Tuyển tập. Nxb Sự thật, H.1960, tr.771.

    3. Hồ Chí Minh, Tuyển tập. Nxb Sự thật, H.1960, tr. 712.

    4. Văn kiện Đại hội X. Sđd.

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...