Thứ Bảy, 16/12/2006, 19:56

    Chủ động đánh, chủ động rút

    Tháng 12 năm 1946, ở Hà Nội, Pháp có 6.500 quân với đủ các binh chủng chiến đấu, được trang bị hiện đại. Chúng triển khai thành 52 vị trí xen kẽ với ta trong thành phố. Về phía ta, mặt trận Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn với quân số 2.516 người, được trang bị cơ bản là súng trường và một số trung liên, đại liên, ba-dô-ca, lựu đạn…

    Tháng 12 năm 1946, ở Hà Nội, Pháp có 6.500 quân với đủ các binh chủng chiến đấu, được trang bị hiện đại. Chúng triển khai thành 52 vị trí xen kẽ với ta trong thành phố. Về phía ta, mặt trận Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn với quân số 2.516 người, được trang bị cơ bản là súng trường và một số trung liên, đại liên, ba-dô-ca, lựu đạn… nhưng quân và dân Hà Nội đã chủ động tiến công địch trước, chủ động về cách đánh làm cho địch luôn phải bị động đánh theo cách đánh của ta và cuối cùng là chủ động rút lui an toàn. Đây là nét đặc sắc trong nghệ thuật mở đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

    Thấy rất rõ tương quan lực lượng địch mạnh, ta yếu, so sánh lực lượng hết sức chênh lệch, địch đã đóng quân ở những vị trí xung yếu nhất của thành phố, ta không thể tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch, mà cũng không thể phòng ngự để giữ thành phố đến cùng. Bởi vì, nếu đề ra nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch thì vượt quá khả năng của ta và rất phiêu lưu mạo hiểm, không những ta không làm nổi mà dễ đi đến thất bại nặng nề ngay từ đầu kháng chiến. Nếu đề ra phòng ngự giữ thành phố đến cùng thì phải đem lực lượng quyết chiến chặn địch, một việc mà ta cũng khó làm nổi, dễ đi đến tổn thất nghiêm trọng, bất lợi cho việc kháng chiến lâu dài, nhưng ta cũng không thể rút khỏi Hà Nội để địch chiếm thành phố một cách dễ dàng. Từ đó, ta chủ trương tổ chức phòng ngự trong một thời gian, tích cực tiêu hao, tiêu diệt địch, ngăn chặn làm chậm bước tiến của chúng càng lâu càng tốt rồi mới rút lui đúng lúc để bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài.

    Ngày 18-12-1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ và công an ta, đòi kiểm soát trật tự trị an thành phố, chúng ráo riết chuẩn bị kế hoạch mở cuộc tiến công quy mô lớn (dự kiến được tiến hành vào ngày 20-12) nhằm đánh chiếm cơ quan lãnh đạo của ta ở Thủ đô, khả năng trì hoãn chiến tranh không còn, ta không thể nhân nhượng được nữa. Lùi thêm, hoặc nhân nhượng thêm nữa sẽ phạm đến chủ quyền đất nước, là hại đến quyền lợi cao trọng của dân tộc, phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Trên cơ sở đã chủ động chuẩn bị về tinh thần và lực lượng, nhạy bén phát hiện tình hình, âm mưu của địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định chủ động nổ súng đánh trước ở Thủ đô Hà Nội. 20 giờ ngày 19-12-1946, các lực lượng Vệ quốc đoàn, công an, tự vệ đồng loạt tiến công các vị trí của quân Pháp, làm cho chúng bị bất ngờ, bị động đối phó, mặc dù ở mọi nơi quân Pháp đều đã sẵn sàng. Nếu ta thụ động xử lý chậm, mở đầu kháng chiến sau ngày 20-12, để cho kẻ thù giành lấy thế chủ động và lợi thế đánh trước ở Thủ đô, lực lượng ta sẽ bị tổn thất, thậm chí địch có thể chụp bắt, gây thiệt hại khó lường cho các cơ quan lãnh đạo và lực lượng vũ trang ta. Nay trái với ý định của thực dân Pháp, cuộc tiến công đồng loạt của quân và dân ta diễn ra trước làm tan vỡ kế hoạch chụp bắt cơ quan đầu não, tiêu diệt lực lượng vũ trang ta.

    Đến khi giặc Pháp đã huy động lực lượng dày đặc để bao vây tiêu diệt lực lượng ta, nhất là sau khi chúng chiếm được Nhật Tân, kiểm soát con đường vòng cung ngoại thành và cắt được cuống họng tiếp tế cho Liên khu 1. Nhiệm vụ thu hút địch, giam chân địch đã hoàn thành vẻ vang, ta chủ động rút khỏi vòng vây, trở về hậu phương xây dựng lớn mạnh hơn nữa để kháng chiến lâu dài. Cuộc rút lui hơn 1.200 người và vũ khí, bí mật vượt vòng vây ra vùng tự do an toàn là một thắng lợi nữa của ta, làm cho một số tướng lĩnh của địch trong hồi ký của mình đều thán phục: "Cuộc rút lui thần kỳ", "cuộc rút lui kỳ diệu". Nguyên nhân của sự thành công này có nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hàng đầu là sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch, ta để xác định mục tiêu chiến đấu cho mặt trận Hà Nội và đến thời điểm thích hợp thì chủ động rút lui nhằm bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài. Chọn thời điểm rút lui vào đêm 17-2-1947 là hết sức chính xác, không sớm, không muộn. Bởi vì, trước ngày 17 ta còn khả năng đánh tiếp để kìm giữ, giam chân địch. Nhưng từ sau trận Đồng Xuân ngày 14-2 tình hình đã khác: Khu vực Liên khu 1 thu hẹp đến mức nguy hiểm, dự trữ lương thực, đạn dược, thuốc men đã cạn (lương thực còn 5 ngày, mỗi khẩu súng còn 7 viên đạn), tuy tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ còn rất anh dũng, nhiều người còn muốn tiếp tục chiến đấu. Nhiệm vụ chính của mặt trận Hà Nội và Trung đoàn Thủ Đô "kìm giữ, giam chân địch" đã hoàn thành vượt mức Bộ Tổng chỉ huy giao cho ban đầu: "Hà Nội cần giam chân địch ít nhất là một tháng". Chọn thời điểm rút vào đêm 17-2 còn dựa trên kinh nghiệm thực tế qua các đợt tiến công trước của địch, sau mỗi đợt phải 5-6 ngày sau chúng mới tổ chức được đợt tiến công mới. Thời điểm rút vào đêm 17-2 là thời điểm địch chưa thể tổ chức tiến công ta, cũng là thời gian cần thiết để ta chuẩn bị mọi việc, phối hợp trong ngoài cho việc rút lui. Việc lái đề nghị của lãnh sự Trung Hoa dân quốc đề nghị hai bên tạm ngừng bắn ngày 17-2 để Hoa kiều tản cư ra ngoài sang ngày 18-2 cũng là một hành động ngoại giao khôn khéo góp phần nghi binh, lừa địch bảo đảm cho việc rút lui được bí mật, an toàn.

    LÊ VĂN BẢO

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...