Thứ Hai, 29/10/2007, 22:25

    Có cha nâng cánh con bay

    Sau khi báo Quân đội nhân dân, ngày 14-10-2007, đăng bài “Dũng cảm, mưu trí cứu máy bay” viết về tấm gương không sợ hy sinh, quyết tâm cứu máy bay của phi công Đào Quốc Kháng trong tình huống hiểm nghèo của ban bay huấn luyện ngày 12-10...

    Sau khi báo Quân đội nhân dân, ngày 14-10-2007, đăng bài “Dũng cảm, mưu trí cứu máy bay” viết về tấm gương không sợ hy sinh, quyết tâm cứu máy bay của phi công Đào Quốc Kháng trong tình huống hiểm nghèo của ban bay huấn luyện ngày 12-10, chúng tôi đã đến trạm 77, nhà khách Quân chủng Phòng không-Không quân gặp chị Nguyễn Thị Minh Hảo, vợ phi công Đào Quốc Kháng. Chị đang ở nhờ trạm 77 để điều trị bệnh hiểm nghèo. Nhìn khuôn mặt mệt mỏi của người phụ nữ sau những đợt xạ trị, chúng tôi ái ngại:

    - Báo Quân đội nhân dân vừa có bài viết về chồng chị. Anh ấy đã dũng cảm cứu máy bay, chúng tôi mang báo để tặng chị đây.

    Nghe tôi đọc bài báo, chị Nguyễn Thị Minh Hảo oà khóc:

    - Chuyện nguy hiểm thế này mà anh ấy giấu em, đến giờ em mới biết anh ấy qua tai nạn... Nhà em tính gan lì lắm, không muốn cho gia đình phải lo lắng về công việc của mình. Tuổi thơ của anh Kháng cực lắm. Anh chưa từng nhìn thấy mặt bố. Bố anh đi chiến trường từ lúc anh ấy mới hai tháng tuổi, rồi hy sinh, đến giờ cũng chưa tìm được mộ ông cụ.

    Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, trung tá Đào Quốc Kháng, Chính trị viên phi đội 1, đơn vị C35, sinh 1967, ở xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Làng quê anh nghèo. Những năm chiến tranh, hầu như tất cả trai làng tòng quân đánh giặc, cứu nước. Cha anh, ông Đào Minh Khuê, làm kế toán cho công ty kiến trúc Phú Bắc ở Hà Nội từ năm 1960. Mẹ anh là bà Nguyễn Thị Kê, vừa làm nông nghiệp, vừa là cán bộ xã Định Tiến. Do công việc, hai vợ chồng ông Khuê và bà Kê ở mỗi người một nơi, nhưng bà Kê luôn động viên chồng cố gắng công tác, bà ở nhà lo hậu phương gia đình. Vào dịp Quốc khánh , bà Kê nhớ chồng, gánh gạo, mang gà ra Hà Nội thăm ông. Sau đận ấy, bà sinh hạ cậu con trai đầu lòng, đặt tên là Đào Quốc Khánh, kỷ niệm chuyến ra Hà Nội. Ông Khuê là người ham học, cầu tiến bộ. Ông vừa đi làm, vừa quyết chí thi đại học. Năm 1966, ông thi đỗ đại học và đủ điểm đi nước ngoài, nhưng lúc này cuộc chiến tranh đang hết sức khốc liệt. Ở miền , đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào, ở miền Bắc không quân Mỹ đánh phá suốt ngày đêm. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông Khuê gác bút nghiên, tình nguyện lên đường đi đánh giặc. Cuộc chia tay với người vợ hiền lên đường tòng quân đã cho ông thêm một cậu con trai, đặt tên là Đào Quốc Kháng để thể hiện ý chí đi kháng chiến đến cùng của ông. Trước ngày đi chiến đấu, ông Khuê được về thăm nhà ít ngày. Nhìn hai đứa con trai, Khánh lúc đó 5 tuổi, Kháng mới hai tháng tuổi, ông thầm mong sau này hai con tiếp nối truyền thống của cha. Ngày ấy anh Kháng còn bé quá, anh không nhớ được mình đã gặp cha như thế nào, giờ đây trong tim anh chỉ khắc hoạ hình ảnh cha qua di ảnh.

    Bà Khuê ở nhà, ngoài việc nuôi dạy các con còn tích cực tham gia các công tác đoàn thể, vận động thanh niên lên đường đi chiến đấu, vận động chị em sản xuất giỏi, góp lương thực cho tiền tuyến. Có những lúc đi họp, nhà chẳng có ai, bà phải chở hai con bằng xe đạp, em Kháng nhỏ được ngồi ghế mây phía trước, anh Khánh ngồi sau. Đến chỗ họp hai anh em chơi với nhau. Có lần Kháng bị sốt cao, bà vội bế con chạy một mạch lên bệnh xá, con được vào cấp cứu, mẹ cũng cấp cứu luôn vì ngất xỉu do đói và mệt. Năm 1970, nhận được tin báo tử của chồng, bà Khuê như đứt từng khúc ruột. Nén đau thương, nuốt nước mắt trong lòng, bà quyết tâm nuôi dạy con cái nên người. May mà các cháu đều ngoan ngoãn, chịu khó học hành, chăm chỉ giúp mẹ các công việc nhà. Hai anh em đều học giỏi có tiếng trong vùng. Anh Đào Quốc Khánh sau này trở thành bác sĩ, còn Kháng thì luôn là học sinh giỏi của trường, năm nào cũng được cử đi thi học sinh giỏi cấp huyện. Vui nhất là lần đoàn khám tuyển phi công về huyện, hàng trăm thanh niên được khám, nhưng cuối cùng chỉ có 2 người trúng tuyển trong đó có Đào Quốc Kháng. Kháng ra bệnh viện Quân chủng ở Hà Nội để khám vòng 2. Lần khám này còn kỹ hơn lần trước, vừa xét nghiệm, khám toàn diện, vừa kiểm tra thần kinh, tâm lý, đo giãn đồng tử. Kháng phải ngồi ghế quay 3 phút, sau đó phải đi thẳng về phía trước và làm các phép tính, để kiểm tra trí nhớ. Kháng còn được vào buồng khí áp với giả định độ cao 5000m trong 30 phút, làm các bài toán kiểm tra thần kinh.

    Ngày 20-3-1986, bà Khuê nhận được giấy gọi con trai nhập ngũ vào trường dự bị bay, nhưng lúc đó Kháng đang bị ốm nặng nằm điều trị trong bệnh viện. Ruột gan rối bời, bà không dám nói với con, để con yên tâm điều trị. Đến lúc khỏi bệnh bà mới cho Kháng biết và khuyên con: “Sức khoẻ yếu vậy, hay con ở nhà làm nghề khác, nghề bay vất vả và nguy hiểm lắm!”. Do trận ốm, Kháng gầy rộc chỉ còn khoảng 52kg. Nghe mẹ khuyên vậy, nhưng Kháng vẫn kiên quyết: “Mẹ cứ để con lên đường, con tin là con sẽ vượt qua mọi gian khổ, bố sẽ phù hộ cho con”. Kháng nhớ, cả tỉnh Thanh ngày ấy chỉ có 4 người được vào trường dự bị bay không quân ở Mai Lĩnh (Hà Sơn Bình cũ), nhưng sau này chỉ còn mình Kháng trụ lại với nghề bay. Sau 8 tháng học ở Mai Lĩnh, tất cả các học viên trải qua một cuộc thi văn hóa để về Trường sĩ quan chỉ huy kỹ thuật không quân (ở Nha Trang) học bay. Ngày vào trường có hơn 60 học viên, nhưng ngày tốt nghiệp ra trường chỉ còn lại 12 phi công. Nghề bay đòi hỏi tuyển lựa hết sức nghiêm ngặt, chỉ cần một lần mắc sai phạm như hạ cánh “nhẩy cóc” là có thể vĩnh viễn chia tay. Thương mẹ, Kháng quyết tâm học thật giỏi để khỏi phụ công nuôi dạy của mẹ. Anh chịu khó thức khuya, dậy sớm học bài, nắm vững lý thuyết học hỏi kinh nghiệm bay của các bậc đàn anh đi trước. Chuyến bay đơn đầu tiên vào cuối năm 1988, anh đã viết thư về cho mẹ với cảm xúc tràn đầy: “Thế là mẹ ơi, sau bao tháng ngày luyện tập, hôm nay một mình con đã lái máy bay lên bầu trời xanh lộng gió, như cánh chim đại bàng trên chín tầng mây, con được nhìn thấy Tổ quốc từ trên cao, những con sông uốn lượn hiền hòa như những dải lụa, và biển khơi xanh thắm dưới cánh con bay. Trong con trào dâng tình yêu quê hương đất nước. Con muốn gửi tới mẹ và hương hồn cha lòng biết ơn vô bờ bến…”.

    Sau khi ra trường, Kháng được điều về đoàn không quân C37, chuyển loại lái máy bay tiêm kích đa năng. Nơi mảnh đất miền Trung khô cằn ấy đã rèn luyện Kháng trở thành phi công bay giỏi. Trong nghề bay, Kháng đã gặp nhiều tình huống trục trặc trên không, nhưng anh luôn nhớ lời dạy của đoàn trưởng bay Võ Văn Tuấn, nay là Tham mưu trưởng Quân chủng: “Nghĩ, làm, kiểm tra!”. Chỉ mấy từ như vậy, nhưng thực sự là “cẩm nang” cho anh mỗi khi gặp trục trặc trên không. Trong lần bay diễn tập năm 1990, Kháng bay biên đội ra chụp ảnh dàn khoan. Trời nhiều mây, đến lúc hoàn thành xong nhiệm vụ thì anh phát hiện lạc đội hình. Đồng hồ chỉ hướng của anh bị hỏng. Giữa biển khơi mênh mông, xung quanh không biết lấy gì làm tiêu. Chỉ cần hoang mang, bay lạc hướng là không biết máy bay sẽ đi đến đâu. Kháng đã bình tĩnh, dựa vào mặt trời để xác định hướng bay về, đồng thời liên lạc vô tuyến với đồng đội nhờ sự giúp đỡ. Anh đã tìm lại đội hình và bay về hạ cánh an toàn. Có lần anh bay cùng đại tá phi công Nguyễn Kim Cách (hiện là Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng), vừa hạ cánh xuống đường băng thì lốp phải máy bay bị nổ, máy bay nghiêng lệch hẳn đi như muốn lao ra ngoài đường băng. Được sự nhắc nhở của anh Cách, Kháng bình tĩnh ghì máy bay sang trái. Cuối cùng chiếc máy bay cũng đứng im trên đường băng. Nếu không xử lý tốt, thì máy bay trượt ra ngoài đường băng, có thể gẫy càng, thậm chí lật úp, cháy...

    Tình yêu đến với người phi công trẻ thật bất ngờ. Vào năm 1993, trong buổi giao lưu văn hóa văn nghệ với Đài truyền hình Ninh Thuận, Kháng đã say mê tiếng hát của cô nhân viên đài truyền hình Nguyễn Thị Minh Hảo, còn Hảo cũng cảm phục chàng phi công trẻ tài hoa. Sau buổi giao lưu, tình cảm hai người ngày thêm gắn kết. Năm 1994, đôi bạn trẻ nên duyên vợ chồng. Ba của Hảo quê ở Phú Yên, tập kết ra Bắc lấy vợ người Định. Sau ngày miền hoàn toàn giải phóng, ông bà đưa con gái về Ninh Thuận sống. Gia đình vợ rất thương con rể phi công, tạo mọi điều kiện cho Kháng yên tâm công tác để lo làm nhiệm vụ bay. Con gái đầu lòng Đào Phương Khanh năm nay lên lớp 7, còn cậu con trai Đào Minh Khôi học lớp 2 đều được bà ngoại chăm sóc từ nhỏ. Chị Minh Hảo thương chồng, bỏ công việc ở đài truyền hình xin vào làm công nhân viên trong đoàn bay. Nghe người ta nói phi công hào hoa, bay bổng trên chín tầng mây, nhưng đến lúc lấy chồng phi công, chị Hảo mới thấy nghề bay vất vả và nguy hiểm, đòi hỏi lòng dũng cảm và sự thông minh, nhanh nhạy. Những ngày anh Kháng đi bay, là những ngày lo âu thấp thỏm cho chị Hảo. Chỉ đến khi anh hoàn thành những chuyến bay xong, chị mới yên tâm. Biết vợ hay cả lo, Kháng thường động viên: “Em yên tâm, bên cạnh anh có đồng đội, có bố phù hộ cho anh”.

    Nói đến bố, là Kháng lại nhói đau nỗi niềm chưa tìm được hài cốt của cha mình. Trong giấy báo tử của cha, chỉ có mấy dòng vẻn vẹn: “Liệt sĩ Đào Minh Khuê đơn vị MB, hy sinh mặt trận phía …”. Mỗi lần về phép thăm quê, chưa kịp vào nhà, mẹ đã vội vã ra đón, nước mắt ngắn, nước mắt dài, sụt sịt: “Đã tìm thấy cha chưa con?”. Dù trải qua bao nhiêu lần mẹ con gặp nhau ngậm ngùi, khóc mếu, anh vẫn bối rối, không biết nói thế nào cho mẹ dịu lòng. Gần 40 năm đã trôi qua, bố hy sinh ở đâu, đang nằm ở cánh rừng nào? Quả đồi không tên nào? Đất nước mênh mông, chiến trường rộng lớn, mà bố mình thì nhỏ bé. Kháng đã lang thang đi khắp các nghĩa trang Trảng Bàng, Tây Ninh, Gò Dầu, Long An, Dương Minh Châu… Anh đã nhờ sợ giúp đỡ của Bộ CHQS các tỉnh dọc tuyến biên giới Việt - Cam-pu-chia tìm kiếm cha mình. Giữa bạt ngàn mộ liệt sĩ san sát bên nhau mà không tìm thấy cha mình đâu. Kháng ứa nước mắt, thương cha mình. Trong phòng ở của anh, di ảnh của bố được treo trang trọng, chuyển công tác đâu là anh mang ảnh bố đến đấy và mời bố vào nhà trước. Mỗi lần trước khi bay, anh thường nhủ thầm mong bố động viên, giúp đỡ tinh thần cho những chuyến bay thành công.

    Năm 2004, Kháng được cấp trên cho ra miền Bắc học ở Học viện Chính trị Quân sự. Lại khăn gói lên đường, xa vợ hiền và con thơ dại, Kháng miệt mài học tập để trở thành một cán bộ giỏi. Ra trường, anh được chuyển về đơn vị không quân C35, bay máy bay tiêm kích đa năng hiện đại, và đảm nhiệm cương vị chính trị viên Phi đội bay. Một nỗi buồn ập đến gia đình, khi phát hiện vợ anh bị ung thư tuyến giáp. Thương vợ, anh đưa vợ về Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị, các con nhỏ lại phải nhờ bà ngoại chăm sóc ở Ninh Thuận. Kháng công tác ở Biên Hòa, vợ điều trị bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, các con thì ở mãi Ninh Thuận. Hoàn cảnh khó khăn là vậy, nhưng anh vẫn quyết tâm vượt qua, tranh thủ bay hồi phục sau thời gian đi học, để có thể sớm vào nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu.

    Thượng tá Hoàng Quỳnh, phi công cấp 1, đơn vị phó C35 nói với tôi: “Kháng chăm chỉ học tập, đặc biệt hay hỏi bè bạn cách xử trí tình huống trên không…”. Chính nhờ học tập, rèn luyện nghiêm túc mà trong chuyến bay biên đội bài không kích trên không ngày 12-10-2007, khi gặp sự cố, Đào Quốc Kháng đã dũng cảm đưa máy bay về hạ cánh an toàn. Việc máy bay bị cháy động cơ như trường hợp của Kháng là một sự cố khá trầm trọng, người phi công được phép bỏ máy bay, nhảy dù để bảo đảm an toàn tính mạng. Nhưng Đào Quốc Kháng đã dám đối mặt với tử thần để cứu bằng được máy bay tiêm kích đa năng hiện đại, một tài sản lớn của Nhà nước và nhân dân.

    Đào Quốc Kháng tâm sự với tôi:

    - Khi nghe máy bay phát lệnh nhảy dù, tôi hiểu sự nguy hiểm có thể đến bất cứ lúc nào, vì động cơ cháy không dập được dễ lan đến khoang chứa dầu, máy bay có thể bị nổ tung. Sau khi kiểm tra các thông số khác, thấy máy bay vẫn có thể điều khiển về hạ cánh được và từ kinh nghiệm học hỏi các bậc đàn anh đi trước, tôi quyết định tìm mọi cách cứu máy bay... Đến lúc hạ cánh xong, thoát ly khỏi buồng lái, chạy ra xa chừng 200m, tôi quay đầu lại thấy lửa vẫn cháy từ nách máy bay phía động cơ bên phải... Cái chết chỉ trong đường tơ, kẽ tóc. Còn may, máy bay được cứu kịp thời. Có được sự "may mắn" đó, trước hết là nhờ sự chỉ đạo, giúp đỡ kịp thời của kíp chỉ huy bay. Bên cạnh đó, tôi tin là có sự tiếp sức của cha tôi - người đã nâng cánh cho tôi bay, đem cho tôi niềm tin vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống và công tác.

    Sự dũng cảm, mưu trí của Đào Quốc Kháng trong việc cứu máy bay đã thể hiện bản lĩnh và trình độ của phi công Việt . Kháng đã nối tiếp được truyền thống của người cha liệt sĩ, lập chiến công xuất sắc tô thắm cho Quân kỳ quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt anh hùng.

    Bài và ảnh: ĐOÀN HOÀI TRUNG

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...